vanban.org

Điều 13. - Dịch vụ đặc biệt sử dụng riêng cho bưu kiện — Quyết định 921/2001/QĐ-TCBĐ

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 16/11/2001 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Tổng cục Bưu điện Ban hành 01/11/2001 Hiệu lực 16/11/2001 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 921/2001/QĐ-TCBĐ › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. - Dịch vụ đặc biệt sử dụng riêng cho bưu kiện

13.1. Dịch vụ đối với bưu kiện dễ vỡ

Bưu kiện dễ vỡ là bưu kiện chứa các vật phẩm dễ vỡ và đòi hỏi phải được vận chuyển, khai thác đặc biệt thận trọng.

13.2. Dịch vụ đối với bưu kiện cồng kềnh:

Bưu kiện cồng kềnh là bưu kiện có kích thước, cấu trúc, hình dạng không thể xếp chung với các bưu kiện khác hoặc đòi hỏi cách thức bảo vệ riêng khi khai thác, vận chuyển. Trên cơ sở thực tế, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ quy định kích thước tối đa của bưu kiện cồng kềnh.

13.3. Khi gửi bưu kiện dễ vỡ, hoặc bưu kiện cồng kềnh, người gửi phải chịu thêm một khoản cước tối đa bằng 50% cước cơ bản của bưu kiện đó. Nếu bưu kiện vừa dễ vỡ, vừa cồng kềnh thì chỉ thu cước dịch vụ một lần. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ quy định mức cộng thêm nhưng không vượt quá tối đa đã quy định ở trên.

Đối với bưu kiện cồng kềnh gửi theo đường hàng không thì cước máy bay được thu theo quy định của cơ quan hàng không.

5. Điều 41 được thay thế như sau:

Trừ trường hợp được chuyển tiếp hay người gửi có yêu cầu khác tại phiếu gửi của bưu kiện, thời hạn lưu giữ bưu phẩm, bưu kiện không phát được tại bưu cục phát được quy định như sau:

41.1. Một (01) ngày làm việc đối với bưu phẩm, bưu kiện mà người nhận từ chối nhận kể từ khi có xác nhận của người nhận trên giấy mời hoặc trên bưu phẩm, bưu kiện.

41.2. Năm (05) ngày làm việc đối với bưu phẩm, bưu kiện mà người nhận đã chết nhưng không có người xin nhận thay hợp lệ kể từ khi có xác nhận của gia đình người nhận hoặc của chính quyền phường, xã.

41.3. Ba mươi (30) ngày kể từ ngày lập giấy mời lần thứ nhất đối với loại bưu phẩm, bưu kiện trong nước gửi cho người nhận ở thành phố, thị xã, thị trấn và bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày lập giấy mời lần thứ nhất đối với bưu phẩm, bưu kiện gửi cho người nhận ở nông thôn, trong các trường hợp:

a. Người nhận không đến lĩnh;

b. Không tìm thấy người nhận;

c. Không có địa chỉ của người nhận hoặc địa chỉ không rõ ràng;

d. Người nhận đi nơi khác không để lại địa chỉ.

41. 4. Ba mươi (30) ngày và trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn nhưng không quá sáu mươi (60) ngày kể từ lần phát đầu tiên hoặc ngày lập giấy mời lần thứ nhất đối với:

a. Bưu phẩm, bưu kiện từ nước ngoài gửi đến với những lý do quy định tại khoản 41.3 trên;

b. Bưu phẩm, bưu kiện có địa chỉ nhận lưu ký.

41. 5. Đối với bưu phẩm, bưu kiện chuyển hoàn trả lại người gửi, nếu quá thời hạn ba mươi (30) ngày, người gửi không đến nhận thì bưu phẩm, bưu kiện đó được chuyển về Hội đồng xử lý bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận để giải quyết.

6. Điều 42 khoản 42.3 và khoản 42.4 được thay thế như sau:

42. 3. Bưu phẩm có vật phẩm, hàng hoá gửi trong nước muốn được chuyển tiếp ra nước ngoài phải thực hiện đầy đủ quy định về thủ tục hải quan và theo các quy định của Liên minh Bưu chính Thế giới.

42. 4. Bưu phẩm gửi đến địa chỉ nhận trong nước có yêu cầu chuyển tiếp ra nước ngoài phải trả thêm cước gửi từ Việt Nam đến nước nhận theo địa chỉ mới.

7. Điều 48 được thay thế như sau: