vanban.org

Điều 9. Đề nghị xây dựng nghị định — Quyết định 890/QĐ-BNV

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 03/06/2009 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Nội vụ Ban hành 03/06/2009 Hiệu lực 03/06/2009 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 890/QĐ-BNV › Chương II › Mục 2 › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Đề nghị xây dựng nghị định

1. Hàng năm chậm nhất trước ngày 01 tháng 7 của năm trước (năm dự kiến trình Chính phủ) các đơn vị trình Bộ trưởng đề nghị xây dựng nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ gửi Vụ Pháp chế tổng hợp chuẩn bị chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trình Bộ trưởng xem xét, quyết định.

2. Đề nghị xây dựng nghị định phải có một trong các căn cứ sau:

a) Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của

b) Quy định các biện pháp thực hiện các chính sách và các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định, quản lý, điều hành của Chính phủ;

c) Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;

d) Đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước theo thẩm quyền của Bộ nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật, pháp lệnh.

3. Đề nghị xây dựng nghị định quy định tại các Điểm b, c, d của Khoản 2 điều này phải đảm bảo các yêu cầu sau:

a) Có kết quả nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn;

b) Đáp ứng yêu cầu điều hành của Chính phủ, giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực của Bộ theo thẩm quyền mà cần điều chỉnh bằng nghị định của Chính phủ;

c) Bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân;

d) Phải đánh giá tác động sơ bộ các chính sách cơ bản và nội dung chính của văn bản.

đ) Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước;

e) Phù hợp với nội dung cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc có thể trở thành thành viên;

g) Xác định rõ các điều kiện bảo đảm thi hành nghị định;

h) Bảo đảm tính khả thi của việc ban hành.

4. Trách nhiệm của các đơn vị đề nghị xây dựng nghị định:

a) Gửi thuyết minh về đề nghị xây dựng nghị định và báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản đến Trung tâm Thông tin của Bộ hoặc của đơn vị (nếu có) để đăng tải trên trang thông tin của Bộ trong thời hạn ít nhất là 20 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến;

b) Sau khi được Bộ trưởng đồng ý chủ trương, đơn vị được giao chủ trì tổ chức lấy ý kiến các đơn vị liên quan về đề nghị xây dựng nghị định có thể bằng hình thức hội thảo, công văn thu thập ý kiến trên mạng thông tin điện tử và hình thức khác theo quy định của pháp luật;

c) Gửi hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định của Bộ đến Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao để lấy ý kiến theo quy định của pháp luật và gửi Vụ Công chức - Viên chức của Bộ để lấy ý kiến về nguồn nhân lực dự kiến thực hiện văn bản quy phạm pháp luật;

d) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định gửi Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp gồm:

- Thuyết minh về đề nghị xây dựng nghị định quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh phải nêu rõ căn cứ, mục đích ban hành văn bản, chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản;

 - Trường hợp đề nghị xây dựng nghị định theo quy định tại Điểm c, Điểm đ Khoản 2 của điều này còn phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, các vấn đề cần giải quyết và các căn cứ ưu tiên ban hành;

- Danh mục nghị định đề nghị đưa vào chương trình bao gồm tên văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo, thời gian dự kiến trình Chính phủ;

- Báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản;

đ) Trên cơ sở các ý kiến tham gia, chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định, gửi hồ sơ đến Văn phòng Bộ để tổng hợp trình Bộ trưởng xem xét, quyết định trước ngày 01 tháng 7 của năm, đồng gửi Vụ Pháp chế danh mục đề nghị để tổng hợp chuẩn bị xây dựng chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm để trình lãnh đạo Bộ ký gửi Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ;

e) Định kỳ hàng quý, sáu tháng và cuối năm gửi Văn phòng Bộ để báo cáo Bộ trưởng tình hình, tiến độ và những khó khăn vướng mắc trong công tác xây dựng nghị định, thực hiện báo cáo đột xuất theo yêu cầu, chỉ đạo của lãnh đạo Bộ (đồng gửi Vụ Pháp chế để biết).

5. Trách nhiệm của Vụ Pháp chế:

a) Tổng hợp đề nghị xây dựng nghị định của các đơn vị để xây dựng kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm của Bộ trên cơ sở đề nghị xây dựng nghị định của các đơn vị;

b) Trường hợp cần thiết trình lãnh đạo Bộ tổ chức cuộc họp với các đơn vị thuộc Bộ có sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan để cho ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật;

c) Gửi đề nghị danh mục nghị định đã được Bộ trưởng phê duyệt đến Văn phòng Bộ để tổng hợp, xây dựng chương trình công tác hàng năm của Bộ.

6. Trách nhiệm của Văn phòng Bộ:

a) Tổng hợp đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các đơn vị trên cơ sở tổng hợp của Vụ Pháp chế chuẩn bị chương trình công tác năm của Bộ để trình Bộ trưởng xem xét, quyết định. Giúp Bộ trưởng gửi đến Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp theo quy định của pháp luật;

b) Tổng hợp trình Bộ trưởng báo cáo định kỳ hàng quý, báo cáo tổng kết, báo cáo đột xuất của Bộ do các đơn vị gửi theo Chương trình công tác của Bộ.