Điều 6. Phương pháp tính điểm
1. Tổng điểm của doanh nghiệp được tính như sau: cộng số điểm đạt được của các tiêu chí áp dụng; chia cho tổng điểm chuẩn của các tiêu chí áp dụng rồi nhân với 100 để quy về thang 100 điểm; sau đó cộng điểm cộng (nếu có). Trường hợp kết quả vượt quá 100 điểm thì tính bằng 100 điểm. Cách tính cụ thể và ví dụ minh họa quy định tại Phụ lục III.
2. Việc chấm điểm tiêu chí B1, B2 thực hiện theo thứ hạng trong cùng nhóm quy mô, trên cơ sở số liệu độc lập của từng tiêu chí theo quy định tại Phụ lục I Quy chế này.
3. Khi xác định số đã nộp ngân sách nhà nước tại tiêu chí B1, loại trừ ảnh hưởng của các chính sách miễn, giảm, gia hạn nghĩa vụ tài chính do cơ quan có thẩm quyền ban hành trong kỳ. Đối với các khoản thu nộp một lần cho nhiều năm, gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp một lần cho cả thời gian thuê, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền thuê mặt nước, tiền thuê, khai thác tài sản công và các khoản thu khác có tính chất tương tự, số nộp được tính đủ một lần vào số nộp ngân sách nhà nước của kỳ đánh giá mà cơ quan thuế xác nhận doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ nộp, không phân bổ, chia đều cho các kỳ đánh giá khác. Khi xác định số đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tiêu chí B2, chỉ tính số tiền doanh nghiệp đã đóng theo phần trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, không bao gồm phần đóng của người lao động; loại trừ ảnh hưởng của các chính sách miễn, giảm, gia hạn đóng bảo hiểm xã hội do cơ quan có thẩm quyền ban hành trong kỳ.
4. Một hành vi, một nội dung dữ liệu chỉ được chấm điểm tại một tiêu chí thuộc 06 nhóm điểm chuẩn phản ánh trực tiếp hành vi, nội dung đó; không sử dụng lại để chấm điểm tại tiêu chí điểm chuẩn khác. Các tiêu chí điểm cộng tại Mục 7 Phụ lục I được áp dụng theo điều kiện riêng quy định tại từng tiêu chí. Nội dung đã được phản ánh trong kết quả phân loại mức độ tuân thủ pháp luật thuế tại tiêu chí A1 thì không chấm lại tại các tiêu chí khác.
5. Đối với các tiêu chí về vốn đầu tư thực hiện, tiến độ thực hiện dự án và việc đưa đất vào sử dụng, thời gian thực hiện được tính từ thời điểm doanh nghiệp được bàn giao mặt bằng, được giao đất, cho thuê đất; không tính phần thời gian trước thời điểm đó, thời gian đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép điều chỉnh, giãn tiến độ và thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng. Cơ quan cung cấp dữ liệu có trách nhiệm xác định các mốc thời gian này khi cung cấp dữ liệu; doanh nghiệp không phải giải trình về nội dung này.
6. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện nhiều dự án đầu tư hoặc nhiều hợp đồng trong kỳ đánh giá thì không lấy kết quả của một dự án, một hợp đồng làm kết quả chung của doanh nghiệp; việc tính điểm thực hiện như sau: đối với tiêu chí tính theo tỷ lệ, cộng gộp số liệu của tất cả các dự án, hợp đồng rồi tính tỷ lệ chung; đối với tiêu chí chấm theo bậc, chấm điểm đối với từng dự án, từng hợp đồng, sau đó tính bình quân gia quyền đối với từng dự án, từng hợp đồng để xác định điểm của tiêu chí.
7. Đối với dự án đầu tư, hợp đồng thực hiện theo hình thức liên danh, việc chấm điểm đối với từng doanh nghiệp thành viên chỉ tính trên phần công việc, phần vốn góp và trách nhiệm mà doanh nghiệp đó đảm nhận theo thỏa thuận liên danh; trường hợp không xác định được phần trách nhiệm riêng thì tính theo tỷ lệ giá trị đảm nhận trong liên danh. Không áp dụng tiêu chí loại trừ quy định tại Phụ lục II đối với doanh nghiệp thành viên không có lỗi dẫn đến vi phạm của liên danh.