Điều 12. Quy định về thời hạn lưu trữ và tiêu hủy dữ liệu
1. Thời hạn lưu trữ dữ liệu hình ảnh camera giám sát và các dữ liệu liên quan được quy định cụ thể theo từng phân hệ kiến trúc như sau:
a) Đối với dữ liệu lưu trữ thô, liên tục (24/7): Được thực hiện phân tán tại thiết bị đầu cuối hiện trường hoặc hệ thống camera giám sát dùng riêng của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thời hạn lưu trữ phải bảo đảm tối thiểu 30 ngày và tối đa không quá 45 ngày kể từ ngày ghi hình để phục vụ công tác tra cứu, trích xuất nghiệp vụ khi có yêu cầu.
b) Đối với dữ liệu lưu trữ tập trung (tại Trung tâm dữ liệu tỉnh): Hệ thống camera giám sát tập trung thực hiện lưu trữ liên tục luồng video trực tiếp từ các vị trí trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự, an toàn giao thông theo danh mục do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt với thời hạn tối thiểu 30 ngày.
c) Đối với dữ liệu phân tích và dữ liệu sự kiện: Hệ thống camera giám sát tập trung thực hiện lưu trữ dữ liệu phân tích hình ảnh (Metadata) và dữ liệu sự kiện (Event) được truyền tải từ các thiết bị áp dụng kiến trúc xử lý tại biên trong vòng 12 tháng kể từ ngày hệ thống tiếp nhận để phục vụ công tác thống kê, phân tích xu hướng và xây dựng chính sách.
2. Đối với các dữ liệu hình ảnh có liên quan đến các vụ việc vi phạm hành chính, hình sự hoặc các sự cố đang trong quá trình điều tra, xử lý, thời hạn lưu trữ được kéo dài cho đến khi có quyết định kết thúc vụ việc của cơ quan có thẩm quyền.
3. Hết thời hạn lưu trữ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, hệ thống thực hiện việc xóa dữ liệu theo hình thức ghi đè tự động hoặc tiêu hủy theo quy trình kỹ thuật, đảm bảo không thể phục hồi được thông tin gốc.
4. Khi thực hiện thanh lý, thay thế thiết bị camera hoặc thiết bị lưu trữ, các đơn vị phải thực hiện quy trình hủy dữ liệu vĩnh viễn trên thiết bị và có biên bản xác nhận của bộ phận kỹ thuật để đảm bảo thông tin không bị rò rỉ ra bên ngoài.