Điều 11. Cấp Giấy phép xây dựng
1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng, kể cả công trình đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở, trừ trường hợp quy định tại khoản 9 Điều 1 Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ.
2. Việc xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ trong vùng đã công bố quy hoạch xây dựng được duyệt nhưng tại thời điểm tổ chức, cá nhân xin phép xây dựng công trình, nhà ở chưa thực hiện quy hoạch thì chỉ được cấp giấy phép xây dựng tạm thời công trình với quy mô 01 tầng và có quy định thời hạn theo thời hạn thực hiện quy hoạch (mẫu Đơn xin xây dựng tạm, Giấy phép xây dựng tạm theo Phụ lục 3; 4; 5 và 6).
Khi giải phóng mặt bằng để thực hiện quy hoạch xây dựng, chủ đầu tư phải tự phá dỡ công trình, nếu không tự phá dỡ sẽ bị cưỡng chế; chủ công trình phải chịu mọi chi phí cho việc cưỡng chế hành chính. Việc bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện quy hoạch áp dụng theo quy định hiện hành, riêng phần xây dựng theo giấy phép xây dựng tạm không được bồi thường.
3. Đối với nhà ở riêng lẻ tại nông thôn: giao UBND cấp huyện quy định cụ thể về các điểm dân cư nông thôn thuộc địa bàn phải cấp giấy phép xây dựng (mẫu Đơn xây dựng nhà ở nông thôn, Giấy phép xây dựng nhà ở nông thôn theo phụ lục 7; 8 và 9).