Điều 2. Phương thức tiêu thụ và sử dụng khoản chênh lệch sau khi bán sản phẩm rừng trồng được quy định như sau:
1. Phương thức tiêu thụ:
Phương thức này được áp dụng cho tất cả các đơn vị có diện tích rừng trồng, được đầu tư bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước (kể cả các doanh nghiệp được nhà nước giao vốn bằng giá trị rừng trồng). Cụ thể như sau:
1.1) Đối với rừng trồng có khối lượng nhỏ, lẻ:
Đối với rừng trồng có tổng khối lượng lâm sản dưới 100 m3 trên 01 giấy phép khai thác: giao trách nhiệm cho Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được quyết định cho chủ rừng bán thẳng cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua sản phẩm rừng trồng, trên cơ sở chi phí và giá tiêu thụ thực hiện được Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo từng thời điểm khi cấp phép khai thác lâm sản cho chủ rừng.
1.2) Đối với rừng trồng có sản lượng khai thác lớn:
Đối với rừng trồng có tổng khối lượng lâm sản ≥100 m3 trên 01 giấy phép khai thác: tổ chức bán đấu giá theo quy định tại Quyết định số 17/2006/QĐ-UBND ngày 16/02/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy chế tổ chức bán đấu giá tài sản.
2. Sử dụng khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí sau khi tiêu thụ sản phẩm rừng trồng:
- Đối với các đơn vị sự nghiệp (các Ban Quản lý rừng phòng hộ): nộp toàn bộ khoản chênh lệch sau khi tiêu thụ sản phẩm rừng trồng vào ngân sách Nhà nước;
- Đối với các doanh nghiệp được Nhà nước bàn giao vốn rừng trồng: toàn bộ khoản chênh lệch sau khi tiêu thụ sản phẩm rừng trồng được giao lại vốn cho doanh nghiệp và doanh nghiệp có trách nhiệm bảo toàn vốn để đầu tư tái tạo lại rừng.