Điều 1. Trợ cấp cho cán bộ, công chức được cơ quan thẩm quyền cử đi đào tạo, bồi dưỡng cụ thể như sau:
1/ Đối tượng được trợ cấp:
a/ Khối Đảng, khối Mặt trận và các Đoàn thể:
Cán bộ, công chức được cử đi đào tạo bồi dưỡng theo thông báo (hoặc quyết định) của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (hoặc Ban Tổ chức Tỉnh uỷ) trên cơ sở đề nghị của: Ban Thường vụ Huyện uỷ, các Ban đảng, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Đảng đoàn Mặt trận và các Đoàn thể cấp tỉnh.
b/ Khối chính quyền:
Cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng theo thông báo (hoặc quyết định) của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (hoặc Ban Tổ chức chính quyền tỉnh), trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố (sau khi được Ban thường vụ Huyện uỷ, Thành uỷ đồng ý) hoặc Thủ trưởng các sở, ban, ngành cấp tỉnh (sau khi được Ban cán sự đảng của Sở, Ban, ngành đồng ý).
2/ Diện cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng theo chỉ tiêu của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ thông báo, được Thường vụ Tỉnh ủy, Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định được áp dụng mức trợ cấp theo thông tư 150/1998/TT-BTC, không hưởng trợ cấp theo quyết định này (trình tự xét duyệt, cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng cho đối tượng này như điểm a và b, khoản 1, điều 1 quyết định này).
3/ Mức trợ cấp:
Các đối tượng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng (theo điều I quyết định này), ngoài các chế độ được nhà nước quy định, được hưởng thêm mức trợ cấp như sau:
a/ Được cử đi học trong tỉnh: 100.000đồng/người/tháng.
b/ Được cử đi học ngoài tỉnh: 150.000đồng/người/tháng.
Nếu người được cử đi đào tạo, bồi dưỡng là cán bộ dân tộc ít người hoặc cán bộ nữ có con dưới 3 tuổi, được trợ cấp thêm 50.000đồng/người/tháng (Nếu người được cử đi đào tạo, bồi dưỡng có cả hai đặc điểm này thì được trợ cấp thêm 100.000đồng/người/tháng).
4/ Quy định trợ cấp cho cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nói trên được áp dụng từ ngày 01/01/1999 trở đi.