Điều 13. Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
1. Bằng khen để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân và tặng cho tập thể gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng.
2. Quy định tỷ lệ tặng Bằng khen (thường xuyên) đối với cá nhân (Khi tính tỷ lệ được tính theo nguyên tắc làm tròn số):
a) Đối với các cơ quan Đảng; các sở, ban, ngành; Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; các xã, phường; đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh; các trường đại học, cao đẳng: Đơn vị có số lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động dưới 50 người được đề nghị tối đa 02 cá nhân; từ 50 người đến dưới 100 người được đề nghị tối đa 03 cá nhân; từ 100 người đến dưới 200 người được đề nghị tối đa 05 cá nhân; từ 200 người đến dưới 300 người được đề nghị tối đa 07 cá nhân; từ 300 người đến dưới 400 người được đề nghị tối đa 09 cá nhân; từ 400 người đến dưới 500 người được đề nghị tối đa 11 cá nhân; từ 500 người đến dưới 600 người được đề nghị tối đa 12 cá nhân; từ 600 người đến dưới 700 người được đề nghị tối đa 13 cá nhân; từ 700 người đến dưới 800 người được đề nghị tối đa 14 cá nhân; từ 800 người trở lên được đề nghị tối đa 2% trên tổng số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động (nhưng không được vượt quá 35 cá nhân). Riêng Sở Y tế và Sở Giáo dục và Đào tạo, tùy vào thành tích đạt được trong năm, được đề nghị tối đa không quá 120 cá nhân đối với Sở Y tế và không quá 100 cá nhân đối với Sở Giáo dục và Đào tạo;
b) Đối với các cơ quan, đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh được áp dụng số lượng bằng tỷ lệ 50% các đối tượng khen thưởng tại điểm a khoản này;
c) Đối với các doanh nghiệp, tổ chức hội cấp tỉnh: Căn cứ đặc điểm, tình hình, tính chất, quy mô, hiệu quả sản xuất kinh doanh và những đóng góp trong năm (công tác an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo...) trên địa bàn tỉnh, Sở Nội vụ tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định nhưng số lượng không vượt quá tỷ lệ 50% các đối tượng khen thưởng tại điểm a khoản này.
3. Quy định tỷ lệ tặng Bằng khen (thường xuyên) đối với tập thể. Khi tính tỷ lệ, đối với các cơ quan đơn vị có từ 09 phòng, ban, đơn vị và tương đương trở xuống thì được xét 01 tập thể; từ 10 phòng, ban, đơn vị trở lên thì tính tỷ lệ 15%, được làm tròn số.
a) Đối với các cơ quan Đảng; các sở, ban, ngành; Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Ủy ban nhân dân các xã, phường; đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh; các trường đại học, cao đẳng: số lượng Bằng khen được đề nghị tối đa 15% trên tổng số “Tập thể lao động tiên tiến”;
b) Đối với các cơ quan, đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh: số lượng Bằng khen được đề nghị tối đa 10% trên tổng số “Tập thể lao động tiên tiến”;
c) Đối với các doanh nghiệp, tổ chức hội cấp tỉnh: Căn cứ đặc điểm, tình hình, tính chất, quy mô, hiệu quả sản xuất kinh doanh và những đóng góp trong năm (công tác an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo...) trên địa bàn tỉnh, Sở Nội vụ tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định nhưng số lượng không vượt quá tỷ lệ tại điểm a khoản này.
4. Khi xét khen thưởng thường xuyên, không xét tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho tập thể, cá nhân đang đề nghị đồng thời tặng Bằng khen của Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; Danh hiệu Chiến sĩ thi đua của tỉnh, Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Huân chương các mức hạng (trừ các trường hợp tập thể, cá nhân của cơ quan, đơn vị có ngày kỷ niệm thành lập năm tròn; cá nhân chuẩn bị nghỉ hưu theo chế độ).
5. Bằng khen để tặng cho gia đình gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có nhiều đóng góp về công sức, đất đai và tài sản cho địa phương, xã hội có giá trị từ 400 triệu đồng/năm trở lên.
6. Bằng khen để tặng cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích trong các phong trào thi đua theo đợt, chuyên đề trên địa bàn tỉnh:
a) Khi tiến hành sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua theo đợt, chuyên đề do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phát động (hoặc có văn bản giao cho các cơ quan, đơn vị phát động) thì việc khen thưởng chủ yếu áp dụng hình thức khen thưởng của cấp tỉnh (các phong trào do các ngành, xã, phường, đơn vị phát động do ngành, xã, phường, đơn vị khen thưởng);
b) Về đối tượng khen thưởng:
Xét tặng cho tập thể, cá nhân lập được thành tích xuất sắc trong việc tham gia chỉ đạo, triển khai, thực hiện các chuyên đề; ưu tiên khen thưởng cho đối tượng trực tiếp tham mưu, thực hiện, người nông dân, công nhân, tập thể có tỷ lệ nữ cao; vùng đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc, vùng biển, hải đảo.
c) Về tỷ lệ khen thưởng: Cá nhân trực tiếp tham mưu, thực hiện chuyên đề chiếm ít nhất 70% trên tổng số danh sách đề nghị khen thưởng. Các cá nhân là lãnh đạo, quản lý tham gia chỉ đạo, cơ quan phối hợp, tuyên truyền được đề nghị nhiều nhất 30% trên tổng số danh sách đề nghị khen thưởng;
d) Về số lượng khen thưởng:
- Chuyên đề có thời gian từ 05 năm trở lên, số lượng đề nghị tối đa 07 tập thể và 07 cá nhân/1 chuyên đề.
- Chuyên đề có thời gian từ 03 năm đến dưới 05 năm, số lượng đề nghị tối đa 05 tập thể và 05 cá nhân/1 chuyên đề.
- Chuyên đề có thời gian từ 01 năm đến dưới 03 năm, số lượng đề nghị tối đa 03 tập thể và 03 cá nhân/1 chuyên đề.
7. Bằng khen để tặng cho các tập thể, cá nhân đạt nhiều thành tích nhân dịp kỷ niệm ngày truyền thống, ngày thành lập (năm tròn), đại hội,... Tùy vào quy mô, đặc điểm, tính chất, số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, thời gian thành lập, Sở Nội vụ tham mun, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen cho một số tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp, nổi trội (ưu tiên đối tượng có quá trình công tác lâu dài trong cơ quan, đơn vị, không vi phạm kỷ luật), số lượng xét tặng Bằng khen như sau:
a) Đối với các cơ quan Đảng; các sở, ban, ngành; Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Ủy ban nhân dân các xã, phường; đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh; các trường đại học, cao đẳng): số lượng không vượt quá quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này.
b) Đối với các đơn vị trực thuộc (các sở, ban, ngành; Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Ủy ban nhân dân các xã, phường; đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh; các trường đại học, cao đẳng) và doanh nghiệp, tổ chức hội có số lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động dưới 300 người, số lượng không vượt quá 50% quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này; có số lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động từ 300 người trở lên thì số lượng tối đa không quá 02 tập thể và 06 cá nhân.
8. Bằng khen để tặng cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích trong hoạt động đối ngoại:
a) Đối tượng: Các tập thể, cá nhân ngoài tỉnh, người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài;
b) Tiêu chuẩn: Có thành tích trong việc ủng hộ từ thiện, nhân đạo, xóa đói, giảm nghèo, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngoại giao và lĩnh vực khác góp phần vào sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
9. Bằng khen để tặng cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc đột xuất:
Các tập thể, cá nhân đạt được thành tích xuất sắc đột xuất trong lao động, sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu; dũng cảm cứu người, tài sản của Nhân dân hoặc của Nhà nước (thành tích đạt được ngoài chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ mà tập thể, cá nhân phải đảm nhiệm; thành tích lập được trong hoàn cảnh không được dự báo trước hoặc diễn ra ngoài dự kiến kế hoạch công việc bình thường mà tập thể, cá nhân phải đảm nhiệm) được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen.
10. Bằng khen để tặng cho các tập thể được Cụm, Khối thi đua của tỉnh bình xét, đề nghị.
Ngoài chỉ tiêu bình xét, suy tôn đề nghị tặng Cờ thi đua của Ủy ban nhân dân tỉnh, Cờ thi đua của Chính phủ (tại phụ lục kèm theo Quy chế này) các Cụm, Khối thi đua của tỉnh lựa chọn tối đa không quá 10% sô đơn vị còn lại đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen. Đối với Cụm, Khối thi đua có dưới 10 đơn vị được lựa chọn tối đa 01 đơn vị để đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen.
11. Các trường hợp khác có thành tích đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh không thuộc quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Điều này do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
12. Trong một năm không xét tặng nhiều hơn một Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho một tập thể, cá nhân (trừ khen thưởng thường xuyên, đột xuất). Trong một năm không xét tặng đồng thời danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc và Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với một tập thể.