Điều 5. Nguyên tắc xác định trách nhiệm và xử lý khi có vi phạm trong công tác quyết toán
1. Nguyên tắc xác định trách nhiệm
a) Chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn diện về quản lý chi phí đầu tư xây dựng từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án cho đến khi kết thúc dự án bàn giao đưa vào khai thác, sử dụng; có trách nhiệm quyết toán dự án hoàn thành, quyết toán chi phí quản lý dự án và tất toán tài khoản các dự án đã kết thúc tại Kho bạc Nhà nước tỉnh và Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo đúng thời hạn quy định của Bộ Tài chính (bao gồm các dự án đầu tư, dự án hoặc chi phí chuẩn bị đầu tư, dự án quy hoạch sử dụng nguồn vốn nhà nước sau khi hoàn thành hoặc dừng thực hiện vĩnh viễn theo văn bản cho phép dừng hoặc cho phép chấm dứt thực hiện dự án của người có thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án).
b) Các cơ quan đơn vị (ngoài chức năng làm chủ đầu tư) có trách nhiệm phối hợp giải quyết các khó khăn, vướng mắc của các chủ đầu tư đối với những nội dung thuộc phạm vi quản lý trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, tạo điều kiện để chủ đầu tư hoàn thành công tác quyết toán và tất toán tài khoản theo quy định.
2. Nguyên tắc xử lý khi có vi phạm
a) Khi phát hiện vi phạm quy định về quyết toán dự án hoàn thành của chủ đầu tư, cơ quan có thẩm quyền đang thi hành công vụ và cơ quan thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành được phép lập biên bản, trình cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm.
b) Đối với những vi phạm quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc thẩm quyền xử lý của nhiều cơ quan thì cơ quan nào phát hiện trước, cơ quan đó tiến hành xử lý vi phạm theo đúng các nguyên tắc quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 về một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và tại khoản 3, Điều 17 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP.