Điều 1 : Nhất trí một số quan điểm cơ bản và một số căn cứ chính trong điều tra cơ bản, thiên nhiên kinh tế xã hội mấy năm qua, vận dụng trong việc xây dựng phương án qui hoạch tổng thể huyện Đức Trọng và đề xuất một số mục tiêu kinh tế đến 1990 và 2000 thể hiện một số nét chính sau đây :
Những vấn đề chung :
1. Phạm vi ranh giới :
Huyện Đức Trọng có tổng diện tích tự nhiên 189.500 ha có tọa độ địa lý :
- Kinh độ đông : 107o3758" - 108o28'4"
- Vĩ độ Bắc : 11o68'44" - 12o11'39"
- Phía Bắc giáp tỉnh ĐắcLăc và huyện Lạc Dương
- Phía Nam giáp Huyện Di Linh
- Phía Đông giáp huyện Đơn Dương
- Phía Tây giáp tỉnh ĐăkLăk
2. Đánh giá tình hình tự nhiên, kinh tế xã hội :
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết, đất đai, nguồn nước lao động, lâm sản các cơ sở vật chất kỹ thuật và vị trí địa lý tạo cho Đức Trọng có khả năng sản xuất lương thực thực phẩm (đặc biệt là ngô, lúa, đậu tương, đậu lạc) làm cơ sở để phát huy các thế mạnh :
a- Thế mạnh về cây công nghiệp dài ngày Càphê, chè và cây ăn quả.
b- Thế mạnh về kinh doanh nghề rừng, đặc biệt là rừng gỗ lá rộng, rừng thông và lâm sản khác.
c- Thế mạnh về chăn nuôi đại gia súc như bò, trâu, tiểu gia súc và gia cầm : lợn, gà, vịt, cá nước ngọt.
Trong việc phát huy những thế mạnh trên, huyện có những thuận lợi và khó khăn như sau :
+ Thuận lợi :
- Nằm kề và là cửa ngõ của thành phố Đàlạt, huyện Đức Trọng có sân bay Liên Khương, quốc lộ 20 quốc lộ 27 là trục đường chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa vớicác huyện trong tỉnh và các tỉnh khác.
- Khí hậu thời tiết tương đối ôn hòa (nhiệt độ trung bình 21oC), biên độ nhiệt độ dao động giữa các tháng 0,4 - 1oC tháng nóng nhất 25,5oC (tháng 4 - 5), tháng lạnh nhất 14,1oC (12 - 1). Nhìn chung thích hợp cho sản xuất lương thực cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày phát triển chăn nuôi đại gia súc.
- Đất đai phần lớn là đất bazan (44.600ha) có độ dốc nhỏ, tầng dây lớn liên vùng liên khoảnh tập trung chủ yếu ở các xã : Tùng Nghĩa, Bình Thạnh, Liên Hiệp, Đinh Văn, Phú Hội, đất có khả năng cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa tương đối tốt.
- Nhóm đất phù sa phân bố dọc theo các sông suối lớn như : Đa Dâng, Đa Tam, Cam Ly, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, phần lớn đã đưa vào sản xuất nông nghiệp.
- Huyện đã có sản xuất hàng hóa, có 1 bộ phận lao động kỹ thuật.
- Diện tích đất thổ hiện nay là 7.000ha, lúa 2 vụ là 2.300 ha. Tiềm năng đất nông nghiệp rất lớn theo độ dốc, tầng dày hiện nay đang đưa vào sử dụng khoảng 18.000ha.
- Mạng lưới sông suối dày đặc, thuận lợi cho việc bố trí các công trình thủy lợi, thủy điện (Quảng Hiệp, Đampao, trên sông Đạ đờn... phục vụ nước cho sản xuất nông nghiệp.
Với thuận lợi trên Đức Trọng có thể mở ra những vùng chuyên canh lớn về lúa, ngô, càphê, trà, cây ăn quả. Mặt khác tỉnh hình quan hệ sản xuất mấy năm nay cũng được củng cố, phát triển mở rộng, đã xây dựng được 16 HTX, 141 tập đoàn sản xuất, 2 tập đoàn máy nông nghiệp tình hình sản xuất nông nghiệp tăng lên rõ rệt năm 1982 tổng sản lượng lương thực toàn huyện đạt 29.232 tấn chiếm 1/3 tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh.
- Đất trước đây là rừng, hiện nay còn rừng và đồi trọc 172.200ha chiếm 64% tổng diện tích tự nhiên, trong đó còn rừng là : 134.555ha, trữ lượng 6.670.500m3.
- Nguồn lao động tuy không dồi dào nhưng cũng vào loại khá trong toàn tỉnh. Theo số liệu thống kê ngày 31/12/1981 dân số toàn huyện : 90.508 người sau Đàlạt, lao động trong độ tuổi 42.623 người lao động nông nghiệp chiếm 28,572 người, đây cũng là điều kiện thuận lợi để Đức Trọng phát huy thế mạnh.
- Tại huyện có nhiều cơ sở nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh, trung ương sản xuất sành sứ, hóa chất bê tông đúc sẵn, cơ khí chế tạo, tạo điều kiện cho huyện phát triển công nghiệp địa phương phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp.
- Vùng Kinh có khả năng thâm canh sản xuất tương đối cao.
Từ những đặc điểm và thuận lợi nêu trên huyện Đức Trọng có vị trí kinh tế, chính trị và quốc phòng rất quan trọng và được tỉnh chọn là 1 huyện điểm.
+ Khó khăn :
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt : mùa khô, mùa mưa, mùa khô thường thiếu nước (lượng mưa ít : 167,1mm, lượng bốc hơi nhiều 362mm. Cần cân bằng ẩm luôn luôn âm (-). Bởi vậy, việc tăng vụ có khó khăn, đặc biệt là cây trồng 2 vụ và giải quyết thức ăn gia súc vào mùa khô,nên cần phải tiến hành công tác thủy lợi, trước mắt là những vùng lương thực Đinh Văn, Tùng Nghĩa, phải đặc biệt chú ý giải quyết giống lúa ngô ngắn ngày, giải phóng nhanh đất vụ 1, làm đất kịp thời cho vụ 2.
- Đất đai nhìn chung đang bị thoái hóa và xói mòn đặc biệt là vùng núi cao dốc lớn như Phú Sơn, N’thol hạ cần phải có biện pháp chống xói mòn vào mùa mưa, giữ ẩm vào mùa khô.
- Tiềm năng của huyện về lâm sản tuy lớn nhưng những vùng khai thác tương đối hiểm trở, giao thông khó, an ninh chưa bảo đảm, dân cư thưa thớt, việc khai thác vừa qua do tỉnh quản lý.
- Lực lượng lao động lâm nghiệp hiện tại còn ít và chủ yếu là lao động thủ công chưa tương ứng với tiềm năng về lâm nghiệp của huyện.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật (thủy lợi, giao thông, điện nước) tuy đã có nhưng chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp.
- Dân cư phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở ven đường quốc lộ 20 và QL 27-B, lao động kỹ thuật còn ít.
- Các công trình phục vụ công cộng còn ít, nhất là vùng đồng bào dân tộc.
- Các cơ sở vật chất kỹ thuật khác như phân bón, giống, sân phơi, nhà kho,vật tư thiết bị máy móc còn thiếu chưa đáp ứng kịp yêu cầu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa được tổ chức và phát triển.
- Công tác cải tạo quan hệ sản xuất nông lâm - công thương nghiệp mới ở bước đầu còn nhiều tồn tại.
+ Trình độ quản lý kinh tế kém (tiềm năng đất đai nhiều, lao động thiếu) an ninh quốc phòng chưa bảo đảm.
+ Bộ máy xã yếu, thiếu.
+ Năng suất lao động quá thấp (1 lao động mới làm từ 0,5 - 0,8 ha gieo trồng).
+ Công suất máy móc và phương tiện vận tải chỉ mới sử dụng 50%. phụ tùng khó khăn vì phần lớn là máy móc của tư bản.
+ Lượng tiêu hao vật tư và lao động sống vượt quá định mức.
+ Diện tích chưa được đo đạc và lại là vùng rừng núi nên khó quản lý.
- Tiếp thu một nền nông, lâm nghiệp tự nhiên mất cân đối nghiêm trọng, cần có quy hoạch, kế hoạch cải tạo, xây dựng phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội mà tổ chức lại, tổ chức mới theo từng bước, từng hình thức phù hợp là quan trọng, quyết định.
- Vùng dân tộc : thô sơ lạc hậu, nghèo nàn.
- Vùng Kinh : dân cư đông đúc, lại tập trung vào các quốc lộ.
- Quy hoạch các ngành và tại cơ sở chưa làm nên khó khăn cho việc tiến hành quy hoạch cụ thể kinh tế xã hội và lập kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm.
- Ngoài các quan điểm nguyên tắc quy hoạch theo đường lối,chủ trương của Đảng trong pháp triển kinh tế ở Đức Trọng cần đặc biệt chú ý :
+ Mùa vụ gieo trồng, cơ cấu giống cho vùng, tiểu vùng để đảm bảo thu hoạch trước mùa mua, đặc biệt là lương thực hoa màu.
+ Đặc biệt chú trọng khâu bảo quản chế biến, tuy rằng trước mắt chế biến ra nhiều sản phẩm từ các thực thể còn hạn chế, vậy khâu, sấy, phơi, bảo quản rất quan trọng không thể thiếu hoặc tổ chức không chu đáo, không đầy đủ mà cụ thể là : sân phơi, nhà kho, bao bì, phương tiện vận chuyển và đường xá từ đồng ruộng về kho cho từng cơ sở phải được quy hoạch hợp lý và đầu tư thích đáng; Mặt khác phải sản xuất ra hàng hóa, thực hiện Nghị quyết Đại hộ 3 của tỉnh "... phải từ 1 sản phẩm ra nhiều nhóm sản phẩm..." chấm dứt việc xuất nguyên liệu thô và bán thành phẩm.
+ Sắp xếp lại cơ chế tổ chức và quản lý kinh tế quản lý sản xuất theo ngành và theo lãnh thổ, kết hợp nông - lâm nghiệp với công nghiệp từng tiểu vùng, từng cơ sở là cơ sở của các ngành kinh tế kỹ thuật, Các ngành sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất là của xã, huyện... phải có quy hoạch ngành, kế hoạch ngành trên phạm vi từng cơ sở, từng tiểu vùng của huyện hoàn chỉnh một bước để bố trí cơ sở sản xuất dân cư theo qui hoạch quốc phòng và qui hoạch xây dựng pháo đài quân sự huyện.
+ Có quy hoạch, kế hoạch, ĐCĐC, chấm dứt nạn phá rừng, làm rẫy, chuyển đồng bào dân tộc làm lâm nghiệp, trồng rừng, tu bổ rừng, khai thác nhựa thông, trồng cà phê, chè, cây ăn quả hoặc cây rừng phủ kín hàng vạn ha nương rẫy hiện nay. Muốn vậy, phải có chính sách cây con, chính sách đầu tư, chính sách lương thực và hàng công nghệ phẩm thích đáng, có thể dùng quỹ trồng rừng, bảo vệ, tu bổ rừng, quỹ định canh định cư v.v...