Điều 10. Giá khởi điểm và thẩm quyền phê duyệt giá khởi điểm
1. Giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với trường hợp thửa đất, khu đất đấu giá đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch chi tiết xây dựng được xác định theo từng khu vực, vị trí thửa đất, khu đất nhưng không được thấp hơn Bảng giá đất của tỉnh hằng năm.
2. Ngoài trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Đơn vị được giao tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất có trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ của các thửa đất, khu đất đấu giá. Hồ sơ gồm: thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng chi tiết liên quan đến thửa đất đấu giá đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; trích lục bản đồ địa chính hoặc mảnh trích đo bản đồ địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất đấu giá trong trường hợp chưa có bản đồ địa chính.
b) Cơ quan có chức năng quản lý đất đai tổ chức việc xác định giá đất, trình Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể cùng cấp thẩm định Phương án giá đất trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định phê duyệt giá đất cụ thể để xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất;
c) Đối với khu vực đã có Bảng giá đất tới từng thửa đất trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn thì giá đất cụ thể được xác định theo Bảng giá đất của tỉnh tại thời điểm định giá đất.