Điều 24. Thu hồi giấy phép
1. Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản bị thu hồi trong các trường hợp sau:
a) Tổ chức, cá nhân được phép khai thác tận thu khoáng sản không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 52 của Luật khoáng sản.
b) Khu vực đang được phép khai thác tận thu khoáng sản không còn phù hợp với hình thức khai thác tận thu hoặc có phát hiện mới về khoáng sản có giá trị cao hơn.
c) Khu vực được phép khai thác tận thu khoáng sản được Nhà nước công bố là khu vực cấm hoặc tạm thời cấm hoạt động khoáng sản.
d) Sau sáu (06) tháng kể từ ngày giấy phép có hiệu lực mà tổ chức, cá nhân được phép khai thác tận thu khoáng sản không tiến hành đưa mỏ vào hoạt động mà không có lý do chính đáng.
e) Cá nhân được phép khai thác tận thu khoáng sản chết mà không có người thừa kế quyền khai thác hoặc tổ chức được phép khai thác bị giải thể, phá sản mà không có tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ.
2. Khi giấy phép khai thác tận thu khoáng sản bị thu hồi tổ chức, cá nhân được phép khai thác phải di chuyển toàn bộ tài sản của mình ra khỏi khu vực khai thác, phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai.
3. Sở Tài chính – Vật giá phối hợp với Sở Công nghiệp, Sở Khoa học Công nghệ và môi trường có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân được phép khai thác tận thu khoáng sản.
4. Sở Tài chinh – Vật giá phối hợp với Sở Công nghiệp, Sở Khoa học Công nghệ và môi trường có trách nhiệm hướng dẫn, giải quyết bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân được phép khai thác tận thu khoáng sản trong trường hợp giấy phép bị thu hồi theo quy định tại các Điểm b, c Khoản 1 Điều này.