Điều 4. Hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân
1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đủ điều kiện được hỗ trợ tái định cư theo quy định tại khoản 8 Điều 111 của Luật Đất đai mà tự lo chỗ ở (không áp dụng cho các trường hợp tái định cư tại chỗ và trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP) thì ngoài việc được bồi thường về đất bằng tiền còn được nhận tiền hỗ trợ để tự lo chỗ ở. Cụ thể:
- Hộ có trên 4 nhân khẩu bị thu hồi đất ở với diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh: 200 triệu đồng/hộ gia đình, cá nhân; Hộ có trên 4 nhân khẩu bị thu hồi đất ở với diện tích nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh: 120 triệu đồng/hộ gia đình, cá nhân.
- Hộ có từ 4 nhân khẩu trở xuống bị thu hồi đất ở với diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh: 120 triệu đồng/hộ gia đình, cá nhân; Hộ có từ 4 nhân khẩu trở xuống bị thu hồi đất ở với diện tích nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh: 100 triệu đồng/hộ gia đình, cá nhân.
2. Về suất tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 8 Điều 111 Luật Đất đai
- Suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở, nhà ở thì diện tích đất ở, nhà ở thực hiện theo quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc theo diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật nhà ở.
- Suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng nhà ở thì diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở.
- Giá trị suất tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền: Bằng diện tích suất tái định cư tối thiểu nhân (x) với giá đất được xác định theo bảng giá tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.