Điều 11. Hội nghị thôn, tổ dân phố
1. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phối hợp với Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố tổ chức hội nghị thôn, tổ dân phố (trừ hội nghị để bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Phó thôn; Tổ trưởng, Tổ phó tổ dân phố).
2. Hội nghị thôn, tổ dân phố được tổ chức 06 tháng một lần (một năm hai kỳ), khi cần có thể họp bất thường;
Thành phần hội nghị là toàn thể cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố;
Hội nghị được tiến hành khi có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tham dự;
Nghị quyết của thôn, tổ dân phố chỉ có giá trị khi có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành và không trái pháp luật.
3. Trường hợp thôn, tổ dân phố có trên 200 hộ gia đình, có địa bàn dân cư sống không tập trung thì có thể tổ chức các cuộc họp theo từng cụm dân cư;
Cuộc họp của mỗi cụm dân cư được tiến hành khi có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong cụm dân cư tham dự;
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổng hợp kết quả cuộc họp ở từng cụm dân cư vào kết quả chung của toàn thôn, tổ dân phố.