Điều 25. -1. Khi tiến hành kiểm tra công việc kế toán của một đơn vị nào thì đoàn kiểm tra, tổ kiểm tra hoặc cán bộ kiểm tra phải xuất trình với thủ trưởng đơn vị được kiểm tra lệnh hoặc giấy ủy nhiệm kiểm tra hợp lệ của thủ trưởng đơn vị cấp trên đơn vị được kiểm tra hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:
Trong lệnh hoặc giấy ủy nhiệm kiểm tra kế toán phải ghi rõ : tên đơn vị được kiểm tra, yêu cầu, nội dung kiểm tra, khoảng thời gian cần kiểm tra, thời hạn tiến hành kiểm tra, tên, chức vụ các cán bộ kiểm tra.
2. Khi tới kiểm tra tại một địa phương náo, cán bộ kiểm tra kế toán phải báo trước và trao đổi ý kiến với ủy ban hành chính của địa phương (tỉnh, thành phố, khu…) và sau khi kết thúc phải báo cáo với Ủy ban hành chánh địa phương kết quả công tác kiểm tra.
Trường hợp đơn vị được kiểm tra ở xã Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố thì cán bộ kiểm tra có thể báo bằng công văn khi đi kiểm tra và gởi báo cáo khi kiểm tra xong.
3. Khi tới đơn vị được kiểm tra và sau khi đã xuất trình lệnh hoặc giấy ủy nhiệm kiểm tra cho cán bộ lãnh đạo đơn vị được kiểm tra …, cán bộ kiểm tra có thể kiểm tra ngay tiền mặt tồn quỹ, chứng phiếu có giá, tem, hàng hóa và các vật tư, tài sản khác tồn kho mà không cần phải báo cáo cho người phụ trách bảo quản hiện vật đó biết trước; và có thể tiến hành kiểm kê toàn bộ hay một phần các hiện vật còn lại.
Trước khi kiểm kê hàng hóa, vật liệu… cán bộ kiểm tra phải kiểm tra tính chất chính xác của các dụng cụ đo lường của người phụ trách hiện vật.
4. Nếu trong quá trình kiểm tra mà phát hiện những hành động vi phạm, chế độ, thể lệ, chính sách…do cán bộ, công nhân viên chức thuộc các đơn vị khác gây ra, cán bộ kiểm tra phải báo cáo ngay cho thủ trưởng đơn vị đó biết. Gặp trường hợp nghiêm trọng, cán bộ kiểm tra phải báo cáo với Ủy ban Thanh tra của chính phủ hoặc Ban Thanh tra địa phương nơi mình kiểm tra.
5. Trong quá trình kiểm tra, nếu xét thật cần thiết, cán bộ kiểm tra có thể lấy ra những chứng từ để điều tra, nghiên cứu thêm và thay vào đó bằng những giấy biên nhận có ký tên.