vanban.org

Điều 11. - Chủ đầu tư của Bên Việt Nam phải là các tổ chức sản xuất kinh doanh Việt Nam có tư cách pháp nhân. — Quyết định 71-HĐBT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 09/06/1993 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 09/06/1993 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 39-CP · 09/06/1993
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 16/06/1989 Hiệu lực 16/06/1989 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 37 năm
Quyết định số 71-HĐBT Ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ làm việc và quan hệ công tác của Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư 1989 · 71-HĐBT
09/06/199339-CPBãi bỏ Đang xem 16/06/1989Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 71-HĐBT › Chương IV › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. - Chủ đầu tư của Bên Việt Nam phải là các tổ chức sản xuất kinh doanh Việt Nam có tư cách pháp nhân.

Theo phương hướng, chính sách đầu tư của Nhà nước, các tổ chức kinh tế là Chủ đầu tư tự mình lựa chọn mục tiêu đầu tư, xây dựng các dự án, lựa chọn đối tượng hợp tác. Khi được cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp cho phép, chủ đầu tư đàm phán và ký kết hợp đồng với Bên nước ngoài. Khi đơn xin đầu tư được Nhà nước chuẩn y, chủ đầu tư trực tiếp chịu trách nhiệm pháp lý về hiệu quả sản xuất kinh doanh, về lỗ lãi của xí nghiệp, về những nghĩa vụ phải hoàn thành.