Điều 6. Quản lý và phân phối, sử dụng phí đấu giá
1. Người bán đấu giá tài sản tổ chức thu theo mức phí đã quy định nói trên, đồng thời theo dõi, phản ánh đầy đủ số thu theo đúng quy định hiện hành.
2. Phí đấu giá là khoản thu nhằm bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá và thu phí (như chi phí niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá, chi phí tổ chức đăng ký mua tài sản bán đấu giá, chi phí hồ sơ tham gia đấu giá, chi phí trưng bày, cho xem tài sản, chi phí tổ chức phiên bán đấu giá, chi phí bàn giao tài sản…). Việc quản lý, sử dụng phí đấu giá được thực hiện như sau:
a) Đối với người bán đấu giá là đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng bán đấu giá hoặc Hội đồng bán đấu giá tài sản: Phí đấu giá thu được là khoản thu thuộc ngân sách nhà nước, được quản lý, sử dụng như sau:
- Trường hợp người bán đấu giá là Hội đồng bán đấu giá tài sản, cơ quan thường trực Hội đồng có trách nhiệm thu phí đấu giá và hạch toán, phản ánh số thu phí đấu giá vào sổ sách kế toán theo quy định. Số thu phí đấu giá được phép để lại 100% nhằm bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá tài sản và thu phí.
- Trường hợp người bán đấu giá là đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp thấp, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng nhiệm vụ do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động (theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính) thì đơn vị thu phí phải nộp toàn bộ tiền thu phí thu được vào ngân sách nhà nước theo chương, loại, khoản, mục, tiểu mục tương ứng của Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành.
- Trường hợp người bán đấu giá là đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên hoặc tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên (theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính) thì toàn bộ số tiền thu phí là nguồn thu sự nghiệp và được phân phối, quản lý như sau:
+ Phí đấu giá của người tham gia đấu giá, phí đấu giá của người có tài sản bán đấu giá không phải là tài sản nhà nước: Đơn vị được để lại (100%), sử dụng cân đối chi hoạt động theo quy định đối với đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ tự chủ tài chính.
+ Phí đấu giá của người có tài sản bán đấu giá là tài sản nhà nước, được phân phối như sau:
* Người bán đấu giá được phép trích 40% trên mức thu và quản lý, sử dụng tiền thu theo quy định hiện hành.
* Cơ quan chủ trì xử lý, tổ chức định giá tài sản, tham mưu cấp có thẩm quyền phê duyệt giá khởi điểm (hoặc phê duyệt giá khởi điểm theo thẩm quyền phân cấp) là đơn vị được phép thụ hưởng phần 60% số tiền phí đấu giá còn lại, nhằm để bù đắp các chi phí có liên quan đến công tác định giá, tham mưu quản lý, xử lý tài sản nhà nước.
b) Đối với đơn vị thu phí là doanh nghiệp nhà nước bán đấu giá tài sản: Phí đấu giá thu được là khoản thu không thuộc ngân sách nhà nước. Tiền phí thu được là doanh thu của đơn vị thu phí. Đơn vị thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.
c) Đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất theo quy định tại Quyết định số 7881/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ mà tiền thu từ phí đấu giá của người tham gia đấu giá không bù đắp chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá thì ngân sách nhà nước hỗ trợ phần kinh phí còn thiếu đối với việc tổ chức bán đấu giá đó theo nguyên tắc sau:
- Giá trị quyền sử dụng đất đấu giá là khoản thu thuộc ngân sách cấp nào (không phân biệt đấu giá thành hay không thành) thì ngân sách cấp đó có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hỗ trợ.
- Số tiền hỗ trợ là khoản chênh lệch giữa chi phí thực tế, hợp lý cho việc bán đấu giá (có hóa đơn, chứng từ hợp pháp) trừ đi số phí đấu giá thu được từ người tham gia đấu giá, nhưng không vượt quá số phí đấu giá tính theo mức thu được quy định theo điểm 3, Điều 4 của Quy định này.