vanban.org

Điều 5. Các trường hợp phải xem xét xử lý trước khi cấp Giấy chứng nhận: — Quyết định 69/1999/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 18/02/2005
Hà Nội Ban hành 18/08/1999 Hiệu lực 02/09/1999 Hết hiệu lực toàn bộ 5 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 2 phiên bản · 29 năm
Quyết định số 69/1999/QĐ-UB v/v kê khai đăng ký nhà ở, đất ở, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị thành phố Hà Nội sửa đổi do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành · 69/1999/QĐ-UB
02/09/1999Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 3564/QĐ-UB v/v năm 1997 về kê khai đăng ký nhà ở, đất ở, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành · 3564/QĐ-UB
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 69/1999/QĐ-UB › Chương I › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Các trường hợp phải xem xét xử lý trước khi cấp Giấy chứng nhận:

1. Nếu chủ nhà có một trong các giấy tờ về nhà đất nêu ở Điều 4 nhưng không phải chính chủ đang sử dụng thì phải có những giấy tờ liên quan đến thừa kế, chia, nhận quà tặng... và được UBND phường, thị trấn xác nhận sự việc có thật, không có tranh chấp, khiếu kiện sẽ được xét cấp Giấy chứng nhận.

2. Nếu chủ nhà có giấy tờ hợp lệ về nhà đất nêu ở Điều 4 nhưng sử dụng diện tích đất vượt quá diện tích quy định trong giấy tờ hợp lệ thì phần diện tích vượt quá cũng được cấp Giấy chứng nhận sau khi chủ nhà nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Nghị định 45/CP ngày 3/8/1996 của Chỉnh phủ.

3. Nếu chủ nhà không có giấy tờ về nhà đất nêu ở Điều 4 nhưng phù hợp với qui hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được chính quyền cấp phường, thị trấn xác nhận nhà ở, đất ở không có tranh chấp, đang được sử dụng ổn định thì chủ nhà được xét cấp Giấy chứng nhận với mức đất ở quy định như sau:

3.1- Từ vành đai 2 trở vào trung tâm Thành phố (thuộc 4 quận nội thành cũ, từ Vĩnh Tuy -Ngã tư Vọng -Ngã tư Sở -Cầu giấy -Nhật tân và trung tâm) không quá 120m2/hộ.

3.2- Từ vành đai 2 trở ra không quá 180m2/hộ

3.3- Các cán bộ tham gia cách mạng trước ngày 31/12/1944: diện tích được xác định không quá 120% so với 2 mức trên.

3.4- Diện tích được hợp thức phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Nghị định 45/CP ngày 3/8/1996 của Chính phủ với mức như sau:

+ Người sử dụng đất ở ổn định trước ngày 18/12/1980 phải nộp lệ phí trước bạ nhà đất, lệ phí cấp Giấy chứng nhận và thuế nhà đất.

+ Người sử dụng đất ở ổn định sau ngày 18/12/1980 đến 15/10/1993 phải nộp 20% tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ (phần nhà), lệ phí cấp Giấy chứng nhận và thuế nhà đất.

+ Phần diện tích vượt quá mức nói trên được ghi vào Giấy chứng nhận là đất vườn liền kề, chủ nhà được sử dụng. Khi chủ nhà muốn chuyển mục đích sử dụng và thực hiện các quyền theo Luật định phải nộp tiền sử dụng đất.

4. Đối với nhà ở xây dựng sai phép hoặc không phép khi được xét cấp Giấy chứng nhận phải chịu xẻ lý theo Quyết định số 12/1998/QĐ-UB ngày 5/6/1998 của UBND Thành phố và các quy định khác có liên quan.

Đối với nàh đất trong phạm vi khu phố cổ thì ngoài quy định này cần phải căn cứ Điều lệ tạm thời về quản lý xây dựng, bảo tồn và tôn tạo khu phố cổ Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số 45/1999/QĐ-UB ngày 4/6/1999 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội để xẻ lý khi xét cấp Giấy chứng nhận.

5. Đối với các khu vực chưa công bố công khai quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc chưa cắm mốc giới đối với dự án đã có quyết định đầu tư thì cấp Giấy chứng nhận theo đúng hiện trạng diện tích nhà đất đang sử dụng. Nếu khoảng cách ngôi nhà tiếp gián mặt đường nội bộ có mặt cắt ngang lòng đường tối thiểu 3,5m (tim mặt cắt ngang đường trùng với tim đường hiện có và mở rộng đều về 2 phía).

6. Đối với các khu vực đã có qui hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng thực tế đã cơi nới xây dựng không phép, sai phép trước thời điểm quy hoạch thì được giải quyết theo nguyên tắc sau:

- Các ngôi nhà gián tiếp mặt đường có mặt cắt ngang lòng đường là 5, 5m thì phải đảm bảo có khoảng cách từ nhà tới nhà tối thiếu là 7,5m (tim mặt cắt ngang trùng với tim đường hiện trạng).

- Các ngôi nhà tiếp giáp mặt đường hoặc ngõ có mặt cắt ngang lòng đường là 3, 5m thì phải đảm bảo có khoảng cách ngang từ nhà tới nhà phải tối thiểu là 5,5m (tim mặt cắt ngang trùng với tim đường hiện trạng).

- Các ngôi nhà tiếp giáp mặt đường nội bộ có mặt cắt ngang lòng đường dưới 3m thì phải đảm bảo có khoảng cách ngang từ nhà tới nhà tối thiểu là 3,5m.

- Đối với phần nhà mà không lấn chiếm mặt cắt ngang (lòng đường) nhưng vi phạm khoảng cách ngang từ nhà tới nhà thì chủ nhà được tạm thời sử dụng nhưng phải có văn bản cam kết khi Nhà nước xây dựng thường theo qui hoạch thì phải tự phá dỡ dần diện tích này và chỉ được xét hỗ trợ phá dỡ theo qui định.

- Đối với phần nhà và đất sử dụng lẫn chiếm lòng đường thì không được xét hợp thức để cấp Giấy chứng nhận. Chủ nhà được tạm thời sử dụng nhưng phải tự phá dỡ không điều kiện khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng theo qui hoạch. Phần diện tích nhà đất vi phạm được ghi trong Giấy chứng nhận: “Không cấp Giấy chứng nhận, chờ xử lý sau”.

- Khi xin phép xây dựng, sửa chữa cải tạo nhà ở, người được cấp Giấy chứng nhận phải tuân thủ các qui định hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng, về quản lý trật tự xây dựng đô thị.