Điều 10. Trách nhiệm của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình
1. Chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng thiết kế được quy định tại Chương IV của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP, Nghị định số 49/2008/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
2. Chỉ được nhận thầu thiết kế xây dựng công trình phù hợp với điều kiện năng lực hoạt động thiết kế xây dựng công trình, năng lực hành nghề thiết kế xây dựng công trình đúng theo quy định tại các Điều 59, Điều 60, Điều 61 và Điều 65 của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP. Thực hiện nội dung quản lý chất lượng thiết kế của nhà thầu thiết kế xây dựng thực hiện theo Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 22 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP và khoản 2, Điều 1 Nghị định số 49/2008/NĐ-CP. Đối với việc thiết kế xây dựng nhà ở riêng lẻ thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 9, Quyết định số 08/2007/QĐ-UBND.
3. Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về chất lượng thiết kế xây dựng công trình và phải bồi thường thiệt hại khi đề ra nhiệm vụ khảo sát hoặc sử dụng thông tin, tài liệu, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, giải pháp kỹ thuật, công nghệ trong thiết kế không phù hợp, gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng và các hư hỏng, sự cố công trình do lỗi thiết kế gây ra trong niên hạn sử dụng công trình. Tùy theo mức độ vi phạm còn bị xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Thực hiện quy cách hồ sơ thiết kế xây dựng công trình đảm bảo yêu cầu của điều 15 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP.
5. Giám sát tác giả trong quá trình thi công xây dựng công trình theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP, đặc biệt là đối với công trình thi công xây dựng tầng hầm, nhà cao tầng.
6. Lập quy trình bảo trì công trình xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn kỹ thuật bảo trì công trình xây dựng tương ứng.
7. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định.