Điều 10. Lưu trữ dữ liệu về tài nguyên và môi trường
1. Việc lưu trữ, bảo quản dữ liệu về tài nguyên và môi trường phải tuân theo quy định của pháp luật về lưu trữ, các quy định, quy trình, quy phạm và quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành.
2. Các Sở, ban, ngành thuộc tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã có trách nhiệm ứng dụng công nghệ thông tin để bảo đảm việc thu thập, xử lý, cập nhật thông tin một cách đầy đủ, tin cậy, nhanh chóng, chính xác; đồng thời bảo đảm việc lưu trữ dữ liệu an toàn trong cơ sở dữ liệu.
Tùy theo loại dữ liệu, hình thức, đặc điểm, tính chất, mức độ xử lý và cấp độ phổ biến của dữ liệu để cập nhật các dữ liệu vào cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường cho hợp lý, khoa học, chính xác, thuận tiện, hiệu quả trong quản lý, khai thác và sử dụng, bảo đảm yêu cầu bảo mật, an toàn dữ liệu.
3. Dữ liệu số về tài nguyên và môi trường phải được định kỳ 3 (ba) tháng 1 (một) lần sao chép, lưu trữ theo quy trình, quy phạm kỹ thuật, bảo mật và an toàn theo quy định.
4. Việc in, sao, chụp, vận chuyển, giao nhận, truyền dữ liệu tài liệu, lưu giữ, bảo quản, cung cấp dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước và các hoạt động khác liên quan đến dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước phải tuân theo quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.
5. Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm:
a) Lưu trữ dữ liệu về tài nguyên và môi trường của Cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường của tỉnh.
b) Định kỳ 3 (ba) tháng 1 (một) lần kiểm tra và bảo đảm bảo vệ, bảo mật dữ liệu, an toàn dữ liệu, an toàn máy tính và an toàn mạng.
c) Định kỳ mỗi năm 1 (một) lần sao lưu dữ liệu về tài nguyên và môi trường trên đĩa cứng, đĩa quang (CD, DVD) và lưu trữ theo quy trình, quy phạm kỹ thuật, bảo mật, an toàn theo quy định của pháp luật.