Điều 9. Bồi thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất
1. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm bố trí quỹ đất trong các nghĩa trang theo quy hoạch để di dời mồ mả khi thu hồi đất.
2. Mức bồi thường đối với mồ mả đất cho tất cả các công đoạn để di chuyển mồ mả vào vị trí mới của nghĩa trang:
a) Mồ mả chưa được cải táng: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)/01mồ mả;
b) Mồ mả đã được cải táng là: 10.000.000 đồng (năm triệu đồng)/01 mồ mả.
c) Đối với các mồ mả phải di dời mà không có người thân di dời: đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có mồ mả phải di dời dự toán chi phí thực tế trình cấp thẩm quyền thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định nhưng không vượt quá quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều này.
3. Mức bồi thường đối với mồ mả xây cho tất cả các công đoạn để di chuyển mồ mả vào vị trí mới của nghĩa trang được bồi thường theo mức quy định cho việc di chuyển mồ mả chưa được cải táng, mồ mả đã được cải táng quy định tại khoản 2 Điều này và còn được bồi thường chi phí phần xây dựng, ốp lát mồ mả theo đơn giá tài sản, vật kiến trúc do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
4. Trường hợp tự thu xếp việc di chuyển mồ mả ngoài khu vực được bố trí thì ngoài phần bồi thường di chuyển theo khoản 2, khoản 3 Điều này, còn được hỗ trợ thêm chi phí về đất đai là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/01mồ mả.