Điều 15. Bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
1. Các di tích đã xếp hạng hoặc đã kiểm kê được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (kể cả các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong di tích) phải được bảo vệ nguyên trạng. Khi phát hiện dấu hiệu xuống cấp hoặc bị xâm hại, phải bảo vệ, ngăn chặn và báo cáo chính quyền sở tại hoặc cơ quan quản lý văn hóa, thể thao và du lịch gần nhất để kịp thời phối hợp kiểm tra, bảo vệ, tu bổ, tôn tạo, khắc phục thiệt hại.
2. Việc tu bổ, bảo quản, phục hồi di tích chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết và phải lập dự án theo đúng quy trình, thủ tục và được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.
3. Lập dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
a) Các hoạt động tu bổ di tích cấp quốc gia đặc biệt, cấp quốc gia và hoạt động tu bổ di tích cấp tỉnh ở mức lớn làm thay đổi kết cấu, kiến trúc công trình phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 16 đến Điều 21 chương III Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và pháp luật hiện hành có liên quan.
- Đối với di tích cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt chủ trương, dự án tu bổ di tích thuộc nhóm B, nhóm C sau khi có ý kiến thỏa thuận, thẩm định bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và ý kiến thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Đối với dự án tu bổ di tích có mức đầu tư lớn phải được sự chấp thuận về chủ trương của Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
- Đối với di tích cấp tỉnh: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt chủ trương, dự án tu bổ di tích trên cơ sở ý kiến thỏa thuận, thẩm định của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và cơ quan chuyên môn về xây dựng.
b) Các hoạt động bảo quản, tu bổ di tích cấp tỉnh ở mức gia cố, sửa chữa nhỏ, không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích; việc cải tạo hoặc xây dựng công trình phụ trợ phục vụ công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích cấp tỉnh; việc bảo quản, tu bổ, phục hồi các di tích trong danh mục kiểm kê đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, phê duyệt chủ trương, phê duyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
Nội dung Báo cáo kinh tế - kỹ thuật thực hiện theo quy định tại Nghị định số 70/2012/NĐ-CP, ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ về việc Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
4. Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Tuân thủ các quy định của Luật Di sản văn hóa và pháp luật liên quan; phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và khu vực; phù hợp giữa bảo tồn và phát triển.
b) Bảo đảm giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích; bảo đảm tính đồng bộ và phù hợp về không gian kiến trúc, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, môi trường cảnh quan.
c) Tổ chức, cá nhân của Việt Nam và nước ngoài tham gia hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải có chứng chỉ hành nghề tu bổ di tích đối với cá nhân; giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề đối với tổ chức theo quy định tại Nghị định số 61/2016/NĐ-CP, ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.