Điều 12. Quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1. Quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thực hiện theo quy định của Luật Di sản Văn hoá và các quy định pháp luật hiện hành.
2. Tổ chức, cá nhân phát hiện, giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được xét khen thưởng, hình thức khen thưởng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quyết định khen thưởng, kinh phí chi trả cho việc bồi hoàn chi phí phát hiện, bảo quản và chi thưởng cho tổ chức, cá nhân phát hiện, giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hoá và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.
3. Tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký di vật, cổ vật tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các di vật, cổ vật phải được giám định trước khi đăng ký.
4. Việc phục chế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thực hiện theo quy định của Luật Di sản văn hóa.
5. Tổ chức, cá nhân được giao quản lý di tích có trách nhiệm bảo vệ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, lập sổ kiểm kê, theo dõi và đăng ký với cơ quan chức năng có thẩm quyền về các cổ vật, di vật gắn với quá trình hình thành và phát triển di tích theo quy định. Khi phát hiện bị mất, hư hỏng phải báo ngay cho cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý để kịp thời xử lý.