Điều 11. Chế độ báo cáo về theo dõi tình hình thi hành pháp luật
1. Báo cáo về tình hình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:
a) Công chức chuyên môn thuộc UBND cấp xã có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực hiện thuộc lĩnh vực mình quản lý theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 5 Quy chế này báo cáo định kỳ theo quý và năm gửi về công chức Tư pháp - Hộ tịch chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày chốt số liệu để tổng hợp, báo cáo UBND cùng cấp hoặc báo cáo đột xuất theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền.
b) Trưởng các phòng, ban chuyên môn cấp huyện và UBND cấp xã có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực hiện của cơ quan, đơn vị quản lý theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 5 Quy chế này báo cáo định kỳ theo quý và năm gửi về Phòng Tư pháp chậm nhất là 07 ngày kể từ ngày chốt số liệu để tổng hợp, báo cáo UBND cùng cấp hoặc báo cáo đột xuất theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền.
c) Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh và UBND cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực hiện của cơ quan, đơn vị quản lý theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 5 Quy chế này, báo cáo định kỳ theo quý và năm gửi về Sở Tư pháp chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày chốt số liệu để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tư pháp hoặc báo cáo đột xuất theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền.
d) Nội dung báo cáo của các cơ quan, đơn vị cần nêu rõ tiến độ xây dựng đối với từng văn bản, những khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và đề xuất giải pháp tháo gỡ.
đ) Thời điểm lấy số liệu và thời điểm báo cáo:
Báo cáo quý được lấy số liệu từ ngày đầu tiên của tháng đầu quý cho đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý và báo cáo năm lấy số liệu từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12.
Báo cáo của Thủ trưởng các phòng, ban chuyên môn cấp huyện và UBND cấp xã gửi về UBND cấp huyện, cấp trên trực tiếp chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày chốt số liệu; báo cáo của Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh và UBND cấp huyện gửi về Sở Tư pháp chậm nhất là 08 ngày kể từ ngày chốt số liệu; báo cáo của Sở Tư pháp gửi về UBND tỉnh và Bộ Tư pháp chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày chốt số liệu.
Báo cáo đột xuất thực hiện theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Báo cáo về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật hàng năm:
a) UBND cấp xã xây dựng báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật của địa phương gửi về Phòng Tư pháp trước ngày 03 tháng 10 để tổng hợp kết quả chung.
b) Các sở, ban, ngành tỉnh và UBND cấp huyện xây dựng báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật của cơ quan, đơn vị, địa phương gửi Sở Tư pháp trước ngày 08 tháng 10 để tổng hợp kết quả chung.
c) Sở Tư pháp tham mưu, giúp UBND tỉnh tổng hợp kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật của các sở, ban, ngành tỉnh và UBND cấp huyện, xây dựng báo cáo chung toàn tỉnh, báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tư pháp trước ngày 15 tháng 10.
d) Phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật thuộc Sở Tư pháp; tổ chức pháp chế, công chức pháp chế chuyên trách thuộc các sở, ban, ngành tỉnh tham mưu, giúp Thủ trưởng cơ quan xây dựng báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật của cơ quan, đơn vị theo quy định.
Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã tham mưu giúp UBND cùng cấp xây dựng báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật của địa phương theo quy định.
3. Nội dung, hình thức và báo cáo thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 3; Điều 4 và khoản 2, Điều 5 Thông tư số 10/2015/TT-BTP ngày 31/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật.