Điều 2.
1. Thực hiện việc quản lý bằng hạn ngạch đối với gỗ dành cho chế biến để xuất khẩu. Bộ Lâm nghiệp phối hợp với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước lập và trình Chính phủ duyệt tổng hạn ngạch gỗ chế biến để xuất khẩu hàng năm. Căn cứ tổng hạn ngạch gỗ được duyệt, Bộ Lâm nghiệp phối hợp với Bộ Thương mại trực tiếp phân bổ thẳng hạn ngạch cho các doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất sản phẩm gỗ đã được Bộ Thương mại cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp. Bộ Thương mại căn cứ vào hạn ngạch đã phân bổ cho các doanh nghệp nói trên để cấp giấy phép xuất khẩu sản phẩm gỗ và lâm sản theo đúng các quy định trong Quyết định này.
2. Bộ Lâm nghiệp cùng với Bộ Thương mại, bàn để xác định cụ thể danh sách các doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất hàng lâm sản được phép trực tiếp xuất khẩu. Các doanh nghiệp này phải có đủ điều kiện sau đây:
Có quyết định và đã đăng ký thành lập lại doanh nghiệp theo Quyết định số 388-HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép chế biến gỗ và lâm sản theo Quyết định số 14-CT ngày 15 tháng 01 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật và có lực lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề cần thiết đủ điều kiện chế biến các sản phẩm xuất khẩu theo công nghệ quy định.
3. Ban Vật giá Chính phủ phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Thương mại và Bộ Lâm nghiệp xây dựng biểu giá ngoại tệ tối thiểu cho một đơn vị sản phẩm gỗ xuất khẩu phù hợp với giá gỗ trên thị trường trong và ngoài nước. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Thương mại và Bộ Lâm nghiệp xây dựng biểu thuế xuất khẩu cho các mặt hàng được phép xuất khẩu phù hợp với chủ trương chính sách của Nhà nước trong việc khai thác, chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ.