vanban.org

Điều 7. Quỹ hỗ trợ phát triển được trích lập quỹ dự phòng rủi ro vào chi phí hoạt động nghiệp vụ để bù đắp những tổn thất, thiệt hại do nguyên nhân khách quan trong quá trình cho các dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, các dự án được bảo lãnh tín dụng đầu tư từ Quỹ. Mức trích hàng năm tối đa bằng 0,2% trên dư nợ bình quân cho vay đầu tư, nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng đầu tư. — Quyết định 59/2005/QĐ-TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 04/05/2007 Thay thế: 44/2007/QĐ-TTg · 30/03/2007
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 23/03/2005 Hiệu lực 21/04/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 3 phiên bản · 26 năm
Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg Về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng phát triển Việt Nam · 44/2007/QĐ-TTg
Quyết định số 59/2005/QĐ-TTg Về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Quỹ hỗ trợ phát triển · 59/2005/QĐ-TTg
21/04/2005Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 232/1999/QĐ-TTg Về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính của Quỹ hỗ trợ phát triển · 232/1999/QĐ-TTg
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 59/2005/QĐ-TTg › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Quỹ hỗ trợ phát triển được trích lập quỹ dự phòng rủi ro vào chi phí hoạt động nghiệp vụ để bù đắp những tổn thất, thiệt hại do nguyên nhân khách quan trong quá trình cho các dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, các dự án được bảo lãnh tín dụng đầu tư từ Quỹ. Mức trích hàng năm tối đa bằng 0,2% trên dư nợ bình quân cho vay đầu tư, nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng đầu tư.

Nếu cuối năm không sử dụng hết thì khoản dự phòng này được để lại bù đắp rủi ro cho những năm sau. Trường hợp quỹ dự phòng rủi ro không đủ bù đắp các khoản tổn thất, Tổng giám đốc Quỹ hỗ trợ phát triển báo cáo Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định biện pháp xử lý.

Việc trích lập, sử dụng và thẩm quyền xử lý rủi ro được thực hiện theo quy định của Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 04 năm 2004 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính.