Điều 6. Ủy ban Thanh tra thành phố có những quyền hạn sau:
a) Dựa theo phương hướng, nhiệm vụ công tác được Ủy ban Nhân dân thành phố xét duyệt và Ủy ban Thanh tra của Chính phủ hướng dẫn, lập và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra, thanh tra việc xét giải quyết khiếu tố, trực tiếp xét giải quyết khiếu tố.
Những cuộc thanh tra hoặc xét khiếu tố quan trọng, cần có sự phối hợp của nhiều ngành thì do Ủy ban Nhân dân thành phố ra quyết định.
Ủy ban Thanh tra thành phố được quyền thanh tra các cơ sở kinh tế, sự nghiệp trực thuộc các bộ, các ngành trung ương đóng ở thành phố, dựa theo nhiệm vụ, quyền hạn của chánh quyền địa phương đối với cơ sở đó do nghị định 24-CP ngày 2-2-1976 của Hội đồng Chính phủ đã quy định, hoặc theo sự ủy nhiệm của Ủy ban Thanh tra của Chính phủ.
Triệu tập, hoặc đề nghị Ủy ban Nhân dân thành phố triệu tập hội nghị bàn về công tác thanh tra, xét khiếu tố. Cử đại diện tham dự các cuộc hội nghị có liên quan đến công tác thanh tra của các ngành, các cấp ở thành phố.
b) Yêu cầu các đơn vị được thanh tra hoặc có liên quan cử cán bộ tham gia các cuộc thanh tra. Số cán bộ này chịu sự chỉ đạo của Ủy ban Thanh tra thành phố trong thời gian công tác thanh tra.
Yêu cầu các đơn vị, cá nhân được tham gia hoặc có liên quan đến công tác thanh tra cung cấp tài liệu, thuyết minh sự việc, báo cáo tình hình cần thiết hoặc kết luận những vấn đề thuộc trách nhiệm để phục vụ cho công tác thanh tra, xét khiếu tố; gặp nhân chứng để xác minh sự việc.
c) Sau mỗi cuộc thanh tra, xét khiếu tố, ra văn bản nhận xét, kết luận về những việc làm đúng, sai; nêu rõ nguyên nhân, trách nhiệm, kiến nghị những biện pháp sửa chữa và các hình thức khen thưởng, kỷ luật cần thiết.
Khi cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung những chỉ thị, nghị quyết đã có của các bộ, các ngành trung ương, của Ủy ban Nhân dân địa phương, hoặc kiến nghị kỷ luật các cán bộ, nhân viên không thuộc diện quản lý của thành phố thì phải báo cáo với Ủy ban Nhân dân thành phố hoặc với Ủy ban Thanh tra của Chính phủ (nếu cuộc thanh tra này do Ủy ban Thanh tra của Chính phủ ủy nhiệm) để quyết định.
Trong hạn 15 ngày, kể từ khi nhận được các kết luận, kiến nghị của Ủy ban Thanh tra, đơn vị được thanh tra phải đề ra biện pháp thực hiện cụ thể. Nếu không đồng ý với kiến nghị đó, cũng trong thời hạn nói trên, phải kịp thời báo cáo cho Ủy ban Thanh tra thành phố biết để trình lên Ủy ban Nhân dân thành phố quyết định.
d) Trong khi thanh tra, Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra thành phố được quyền ra quyết định:
+ Tạm thời đình chỉ thi hành những chủ trương, việc làm của đơn vị được thanh tra nếu thấy trái với các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên hoặc của Ủy ban Nhân dân cấp đó và đang trực tiếp gây hoặc sắp gây nên những thiệt hại nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, đời sống cho Nhà nước, cho tập thể và cho nhân dân.
+ Tạm thời đình chỉ công tác những cán bộ, công nhân viên chức có hành động cản trở công tác thanh tra ở đơn vị.
+ Tạm thời đình chỉ thi hành quyết định điều động, kỷ luật đối với những người đang làm việc với cơ quan thanh tra, tạm thời đình chỉ thi hành quyết định điều động đối với người đang là đối tượng thanh tra.
Đối với cán bộ Trưởng, Phó các ngành, sở, các Chánh, Phó Chủ tịch quận, huyện, khi cần tạm đình chỉ công tác người nào thì Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra thành phố phải báo cáo với Ủy ban Nhân dân cùng cấp để quyết định. Trường hợp đối tượng thanh tra là các cơ sở kinh tế, sự nghiệp trực thuộc bộ, ngành trung ương thì phải báo cáo với Ủy ban Nhân dân thành phố hoặc Ủy ban Thanh tra của Chính phủ (nếu cuộc thanh tra này do Ủy ban Thanh tra của Chính phủ ủy nhiệm) để quyết định.
Các quyết định tạm thời đình chỉ nói trên phải đồng thời thông báo cho cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và cơ quan có quan hệ công tác trực tiếp biết. Đơn vị được thanh tra và các cơ quan có quan hệ cần có biện pháp thích đáng, kịp thời, giúp cho sự hoạt động của đơn vị và cuộc thanh tra tiến hành được tốt.