Điều 11. Hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP
1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng mà diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của hộ gia đình, cá nhân đó không nhỏ hơn 300 m² thì được hỗ trợ ổn định đời sống với mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ bằng (=) 50% mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ áp dụng đối với trường hợp bị thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP.
2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không đủ điều kiện bồi thường về đất hoặc do nhận giao khoán đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản từ các nông, lâm trường quốc doanh hoặc công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp và có hợp đồng giao khoán sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ tình hình thực tế tại địa phương để đề xuất, kiến nghị mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể nhưng không vượt quá mức hỗ trợ quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP, gửi Sở Tài chính báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
3. Trường hợp có nhiều hộ gia đình, cá nhân có chung quyền sử dụng đất nông nghiệp thu hồi thì tỷ lệ phần trăm diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để hỗ trợ ổn định đời sống chỉ áp dụng đối với trường hợp diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của mỗi hộ gia đình, cá nhân không nhỏ hơn 300 m².
4. Việc chi trả tiền hỗ trợ ổn định đời sống được chi trả một lần cho người được hỗ trợ theo quyết định phê duyệt của cơ quan thẩm quyền.