Điều 8. Xử lý nợ bị rủi ro
1. Đối với các khoản nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan: Đối tượng được xem xét xử lý rủi ro, nguyên nhân khách quan làm thiệt hại trực tiếp đến vốn và tài sản của khách hàng, biện pháp xử lý, hồ sơ pháp lý để xem xét xử lý nợ bị rủi ro được áp dụng theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính và của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Đối với các khoản nợ bị rủi ro ngoài phạm vi đối tượng và nguyên nhân khách quan được xem xét xử lý rủi ro theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh (phòng giao dịch) phối hợp Sở Tài chính, Sở Nội vụ, Sở Nông nghiệp và Môi trường và các sở, ban, ngành có liên quan đối với chương trình cho vay được giao nhiệm vụ theo Quy chế này xem xét, thẩm định thống nhất bằng văn bản đối với từng trường hợp cụ thể, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định đảm bảo theo đúng quy định.
2. Thẩm quyền xem xét, xử lý nợ bị rủi ro do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
3. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan xử lý nợ bị rủi ro
a) Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh (phòng giao dịch): Xử lý hồ sơ rủi ro theo đúng cơ chế hiện hành; hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ đề nghị xử lý nợ bị rủi ro, kiểm tra đảm bảo tính chính xác, hợp pháp đúng quy định của bộ hồ sơ đề nghị xử lý nợ rủi ro của khách hàng, tổng hợp và có ý kiến bằng văn bản đề nghị xử lý nợ rủi ro gửi Sở Tài chính kèm bộ hồ sơ xử lý rủi ro của khách hàng.
b) Các sở: Nông nghiệp và Môi trường, Nội vụ, Dân tộc và Tôn giáo, Văn hóa, thể thao và du lịch, Giáo dục và Đào tạo; Công an tỉnh và Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh.
Phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh (phòng giao dịch) kiểm tra hồ sơ nợ rủi ro, đề nghị khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ cho khách hàng, tổng hợp gửi Sở Tài chính thẩm định báo cáo Ủy ban nhân nhân tỉnh trình Hội đồng nhân dân quyết định.
c) Sở Tài chính
Căn cứ hồ sơ xử lý nợ rủi ro do Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh (phòng giao dịch) cung cấp, căn cứ báo cáo và ý kiến của các sở, ngành để kiểm tra, thẩm định; nếu hồ sơ xử lý nợ rủi ro đủ cơ sở pháp lý thì báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
Trường hợp những khoản nợ bị rủi ro chưa đủ cơ sở pháp lý thì đề nghị thành lập đoàn kiểm tra khảo sát thực tế, có biên bản xác minh cụ thể, tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
4. Nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro
a) Nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro được lấy từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh (phòng giao dịch) trích lập theo quy định hiện hành đối với cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác từ nguồn ngân sách địa phương và các nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
b) Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp, Sở Tài chính chủ trì phối hợp Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định bổ sung từ ngân sách địa phương để xử lý hoặc giảm trực tiếp vào nguồn vốn ủy thác của ngân sách địa phương và các nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước chuyển qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh (phòng giao dịch).
c) Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng sau khi được sử dụng để xử lý xóa nợ bị rủi ro lớn hơn số dư Quỹ dự phòng rủi ro tối đa, được bổ sung vào nguồn vốn ủy thác để cho vay theo quy định.