Điều 15. Xử lý nợ bị rủi ro
1. Đối với các dự án bị rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng: Đối tượng được xem xét xử lý nợ rủi ro, nguyên nhân khách quan làm thiệt hại trực tiếp đến vốn và tài sản của khách hàng, biện pháp xử lý, hồ sơ pháp lý để xem xét xử lý nợ bị rủi ro áp dụng theo quy định tại Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội và Thông tư số 161/2010/TT-BTC ngày 20/10/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ và văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.
2. Thẩm quyền xem xét xử lý nợ bị rủi ro do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định. Nguồn vốn để xử lý xóa nợ, xóa lãi được lấy từ Quỹ dự phòng rủi ro của địa phương. Trường hợp quỹ dự phòng rủi ro không đủ xử lý nợ thì Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh phối hợp với Sở Tài chính, Sở Lao động thương và Xã hội báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh bổ sung nguồn từ Quỹ giải quyết việc làm của tỉnh để xử lý.