Điều 8. Phương pháp xác định lợi ích thu được
1. Khi xác định tiền làm lợi chỉ tính những lợi ích trực tiếp thu được do áp dụng sáng kiến mang lại.
2. Lợi ích trực tiếp được xác định trên cơ sở so sánh thực trạng kinh tế, kỹ thuật trước và sau khi áp dụng sáng kiến.
a) Trường hợp sáng kiến được áp dụng tại cơ quan, đơn vị không có cơ sở so sánh thì lấy các chỉ tiêu định mức kinh tế, kỹ thuật tiên tiến nhất của các cơ quan, đơn vị khác trong tỉnh làm cơ sở để so sánh;
b) Trường hợp sáng kiến được áp dụng tại cơ quan, đơn vị hoàn toàn mới ở trong tỉnh thì cơ sở so sánh là các chỉ tiêu định mức kinh tế, kỹ thuật tiên tiến nhất của các cơ quan, đơn vị có cùng chức năng ở trong nước.
3. Trường hợp trong một nhiệm vụ, công việc, kỹ thuật có áp dụng nhiều sáng kiến thì đánh giá lợi ích theo mức độ ảnh hưởng của từng sáng kiến đối với nhiệm vụ, công việc, kỹ thuật đó theo tỷ lệ phần trăm của lợi ích chung và căn cứ vào đó để xác định mức thù lao cho tác giả của từng sáng kiến.
4. Đối với sáng kiến làm thay đổi thiết kế thi công, lợi ích thu được là hiệu số giữa dự toán hạng mục công trình lập theo bản vẽ thi công cũ và dự toán lập theo bản vẽ thi công mới được duyệt.
5. Thời gian xác định tiền làm lợi do áp dụng sáng kiến
a) Tiền làm lợi được xác định trong một năm áp dụng tính từ ngày Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định đưa sáng kiến vào áp dụng chính thức;
b) Trường hợp sáng kiến áp dụng để sản xuất sản phẩm hoặc để đánh giá được lợi ích kéo dài hơn 12 tháng thì thời gian xác định làm lợi được tính theo thời gian áp dụng thực tế.