Điều 4: Nhà nước dành các nguồn vốn: ngân sách trong nước, vốn viện trợ và vốn vay của nước ngoài (nếu có) cho chương trình 327 và điều hoà các nguồn vốn đó cho từng ngành, từng địa phương một cách hợp lý; tỉnh nào có nhiều vốn viện trợ nước ngoài về rừng thì giảm hoặc ngừng đầu tư bằng vốn Chương trình 327; các nguồn vốn của các chương trình có liên quan không được ghi chung vào Chương trình này. Nguồn vốn của chương trình quốc gia về rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, gồm: vốn đầu tư, cho vay, kinh phí chuyển, dãn dân, và quản lý phí, khuyến lâm, khuyến nông đều tập trung vào một đầu mối để giao kế hoạch và cấp phát qua hệ thống kho bạc Nhà nước. Tất cả nguồn vốn của các dự án 327 của các ngành, kể cả quốc phòng, nội vụ, đoàn thanh niên... đều thống nhất giao cho tỉnh, trừ một số dự án cần thiết trực thuộc Bộ.
Tuỳ điều kiện cụ thể, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Bộ trưởng chuyên ngành có trách nhiệm giao kế hoạch phù hợp đối với từng dự án hướng chung như sau:
- Vốn đầu tư trực tiếp về rừng và vốn cho hộ dự án vay hỗ trợ để sản xuất lâm nông kết hợp chiếm khoảng 74% vốn chương trình. Trong đó, tiền đầu tư khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc, trồng mới rừng phòng hộ, rừng đặc dụng 60%; tiền chi phí cho 3 khâu: đo đạc tạm để giao đất trồng rừng, khoản khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng; thiết kế theo quy trình trên thực địa, nghiệm thu trồng rừng mới khoảng: 1,5 - 2% tiền cho hộ dự án vay không lãi để hỗ trợ trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, làm kinh tế vườn, chăn nuôi đại gia súc: 12%.
Ngoài vốn được Nhà nước đầu tư và cho vay, hộ dự án phải tiết kiệm, sử dụng lao động và tiền vốn của mình để phát triển mạnh kinh tế gia đình.
Việc chuẩn bị cây giống, đặc biệt là cây rừng bản địa là cực kỳ quan trọng và có tính quyết định cho mục tiêu trồng rừng, vì vậy hàng năm, Nhà nước ưu tiên dành một tỷ lệ đầu tư thích đáng cho việc nghiên cứu giống, xây dựng một số khu rừng nguyên sinh thành rừng để giống; chỉ đạo việc gieo ươm giống cây bản địa đa dạng, có chất lượng phù hợp với từng tiểu vùng. Nhà nước đầu tư ứng trước tiền chuẩn bị giống cây rừng năm đầu, từ năm thứ hai trở đi chủ dự án phải trích tiền giống trong đơn giá trồng rừng của năm đó để luân chuyển chuẩn bị cây giống cho năm sau.
- Vốn đầu tư hỗ trợ với các chuyên ngành về xây dựng hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng, bình quân 12% vốn chương trình.
- Kinh phí sự nghiệp chuyển, dãn dân theo yêu cầu cụ thể của từng dự án, bình quân chung khoảng 6% vốn chương trình.
- Kinh phí quản lý: 8% vốn chương trình, trong đó các ngành ở trung ương 0,8%; các ngành ở tỉnh, huyện trực tiếp chỉ đạo 1,2% và chủ dự án không được dưới 6%.