Điều 3: Cơ cấu, mật độ cây trồng đối với rừng phòng hộ đầu nguồn là trồng hỗn giao theo sinh thái nhiều tầng gồm nhiều loài cây rừng bản địa gỗ quý, chủ yếu lấy giống từ rừng nguyên sinh với mật độ bình quân 1.600 cây/ha. Trong đó, khoảng 40% là các loài cây rừng bản địa và 60% cây phụ trợ, kể cả cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản lâu năm như nhãn, mít, xoài, hồi... Hoặc trồng theo sinh thái đan xen: băng rừng băng cỏ; băng rừng băng cây công nghiệp, cây ăn quả, băng rừng băng cây lương thực... Đối với rừng phòng hộ ven biển, rừng ngập mặn... thì mật độ cây trồng cao hơn (nhưng đơn giá trồng rừng thấp hơn). Đối với một số ít dự án rừng đặc dụng, thực hiện trồng rừng theo luận chứng kinh tế kỹ thuật được duyệt.
Để bảo đảm lợi ích của Nhà nước với lợi ích của người nhận khoán rừng, Bộ Lâm nghiệp xây dựng, trình Chính phủ chính sách đối với bảo vệ và tạo mới rừng phòng hộ, rừng đặc dụng theo hướng như sau:
- Trồng rừng mới: toàn bộ cây rừng bản địa thuộc sở hữu của Nhà nước; còn các loại cây rừng phụ trợ khi được khai thác, thì người trồng rừng được hưởng 2/3 và Nhà nước 1/3 sản phẩm, nhưng việc khai thác cây phụ trợ này phải thực hiện đúng theo quy trình kỹ thuật.
- Bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng: người nhận khoán được hưởng một tỷ lệ hợp lý về giá trị tăng trưởng của rừng do công bảo vệ, chăm sóc rừng mà có.
Ngoài ra, người nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng được hưởng các sản phẩm do trồng xen dưới tán rừng và được hưởng toàn bộ hoa, quả trên cây rừng (nếu có).
C- CƠ CẤU VỐN, CƠ CHẾ CẤP PHÁT, THANH QUYẾT TOÁN VỐN: