vanban.org

Điều 17. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thông tin và truyền thông trên địa bàn tỉnh — Quyết định 55/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/09/2022 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 20/09/2022 Thay thế: 32/2022/QĐ-UBND · 31/08/2022
Quảng Ngãi Ban hành 23/10/2014 Hiệu lực 02/11/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 32/2022/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phối hợp phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thông tin và truyền thông trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 32/2022/QĐ-UBND
Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phối hợp phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thông tin và truyền thông trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 55/2014/QĐ-UBND
20/09/202232/2022/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 02/11/2014Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 55/2014/QĐ-UBND › Chương III › Điều 17
Đọc toàn văn

Điều 17. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thông tin và truyền thông trên địa bàn tỉnh

1. Xây dựng kế hoạch và áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn cơ sở hạ tầng, an ninh thông tin phù hợp với quy mô mạng lưới, dịch vụ và xu thế phát triển công nghệ trên thế giới.

2. Thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp, sử dụng dịch vụ trong hoạt động thông tin và truyền thông.

3. Nghiên cứu phát triển công nghệ nhằm nâng cao độ an toàn của mạng lưới bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin; xây dựng kế hoạch dự phòng về mạng lưới, trang thiết bị để ứng phó với các tình huống khẩn cấp, các sự cố xảy ra nhằm bảo đảm an ninh thông tin và yêu cầu hoạt động liên tục, an toàn của mạng lưới, dịch vụ thông tin và truyền thông.

4. Triển khai các biện pháp bảo vệ an toàn cơ sở hạ tầng bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin nhằm giảm thiểu thiệt hại, tác hại do hành vi vi phạm trong lĩnh vực thông tin và truyền thông gây ra; phát hiện, ngăn chặn kịp thời và dừng ngay việc cung cấp, sử dụng dịch vụ đối với các trường hợp sử dụng, lợi dụng mạng lưới, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

5. Trường hợp phát hiện các dấu hiệu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, như: trộm cắp cước viễn thông, kinh doanh trái phép dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, internet; kinh doanh, đưa vào sử dụng các loại thiết bị viễn thông, thiết bị đầu cuối cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, không hợp chuẩn theo quy định; gửi, vận chuyển hàng lậu, hàng giả, hàng cấm qua mạng bưu chính, mạng chuyển phát; các hành vi vi phạm liên quan đến việc cung cấp, sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông, internet; trộm cắp, phá hoại mạng lưới, thiết bị, các công trình bưu chính, viễn thông,… các doanh nghiệp có trách nhiệm kịp thời báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan cho cơ quan Công an và các đơn vị liên quan để phối hợp điều tra, xử lý.

6. Cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu, số liệu, dữ liệu, đồ vật liên quan đến đối tượng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thông tin và truyền thông và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu, số liệu, dữ liệu, đồ vật mà mình cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành. Đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho lực lượng Công an tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để điều tra, xác minh đối tượng vi phạm để bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

7. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên thuộc doanh nghiệp quản lý để nắm vững và chấp hành nghiêm các quy định về quy trình nghiệp vụ nhằm nâng cao tinh thần ý thức trách nhiệm và cảnh giác cao trong công việc.

8. Có trách nhiệm báo cáo định kỳ 06 tháng một lần về các hành vi vi phạm pháp luật và kết quả phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thông tin và truyền thông gửi về Công an tỉnh để tổng hợp, theo dõi và báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh.