Điều 11. Một số quy định đối với quản lý tầu thuyền.
1. Trường hợp tầu thuyền khi rời cảng mà các loại giấy tờ về đăng ký, an toàn kỹ thuật của tầu và giấy chứng nhận khả năng chuyên môn của thuyền viên không thay đổi so với khi đến, thì chủ tầu không phải nộp hoặc xuất trình các loại giấy tờ nói trên.
2. Tầu thuyền Việt Nam và nước ngoài đã làm thủ tục nhập cảnh ở một cảng khác của Việt Nam, sau đó đến cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh thì không phải làm lại thủ tục nhập cảnh như quy định tại khoản 2 Điều 7 của Quyết định này. Cảng vụ Sài Gòn căn cứ Giấy phép rời cảng do Cảng vụ nơi tầu rời cảng trước đó cấp để quyết định cho tầu vào cảng; các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành khác căn cứ hồ sơ chuyển cảng (nếu có) do các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tương ứng nơi tầu rời cảng trước đó cấp để thực hiện nghiệp vụ quản lý của mình theo quy định hiện hành.
3. Nếu qua khai báo trước của chủ tầu đã khẳng định tầu được miễn dịch, bảo đảm an toàn đối với dịch bệnh của người và động thực vật, hoặc trước khi đến Việt Nam tầu đó hoạt động ở những khu vực không cho dịch bệnh của người, động vật, thực vật mà được cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về kiểm địch chấp nhận, thì không tiến hành thủ tục kiểm dịch y tế, kiểm dịch động vật hoặc thực vật đối với tầu, hàng hóa tại vùng nước phao số "O" Vũng Tàu, trừ trường hợp có cơ sở để nghi ngờ về tính xác thực khai báo của chủ tầu.
4. Đối với hành lý của hành khách trên tầu khách nước ngoài khi đến và rời cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh trong cùng một chuyến đi, thì không áp dụng thủ tục khai báo hải quan.