Điều 5. Xác định diện tích và loại đất được bồi thường đối với trường hợp Nhà nước thu hồi thửa đất ở có vườn, ao
1. Trường hợp Nhà nước thu hồi toàn bộ thửa đất ở có vườn, ao
a) Trường hợp thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận) trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì được xác định theo giấy chứng nhận. Trường hợp phải xác định lại diện tích đất ở được thực hiện như sau:
- Trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai, Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì việc xác định diện tích đất ở được thực hiện theo quy định tại điểm b Khoản 5 Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
- Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được thực hiện theo quy định tại Điểm c Khoản này.
b) Trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì được xác định theo giấy chứng nhận.
c) Trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận thì được xác định theo quy định tại Điều 103 Luật Đất đai và Quy định của UBND tỉnh về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An tại thời điểm thực hiện thu hồi đất.
2. Trường hợp Nhà nước thu hồi một phần diện tích thửa đất ở có vườn, ao
a) Trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận:
- Nếu diện tích còn lại của thửa đất sau khi thu hồi lớn hơn hoặc bằng hạn mức công nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm thu hồi đất thì diện tích đất bị thu hồi được xác định là đất nông nghiệp (đất vườn, ao trong thửa đất ở);
- Nếu diện tích còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn hạn mức công nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm thu hồi đất thì diện tích các loại đất bị thu hồi như sau: Diện tích được bồi thường đất ở = diện tích hạn mức công nhận đất ở theo quy định của UBND tỉnh trừ (-) diện tích còn lại của thửa đất. Phần diện tích còn lại sau khi trừ đi diện tích đất ở được xác định là đất nông nghiệp (đất vườn, ao trong thửa đất ở).
Nếu trên diện tích thu hồi đất có các công trình được xác định là đất ở, nếu thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo đất ở thì tại phương án bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất phải thể hiện các khoản nghĩa vụ tài chính do chuyển mục đích sử dụng đất (chuyển đất vườn, ao sang đất ở) để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định hoặc thực hiện việc chỉnh lý biến động Giấy chứng nhận đối với diện tích đất ở (trừ lùi diện tích đất ở) nhưng diện tích đất ở còn lại không được nhỏ hơn hạn mức giao đất ở của địa phương được UBND tỉnh quy định tại thời điểm thu hồi đất.
b) Trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì diện tích đất ở, đất vườn, ao được xác định theo giấy chứng nhận; trong đó:
- Diện tích đất Nhà nước thu hồi nhỏ hơn hoặc bằng diện tích đất vườn, ao ghi trên giấy chứng nhận thì diện tích đất bị thu hồi được xác định là đất nông nghiệp (đất vườn, ao trong thửa đất ở);
- Diện tích đất Nhà nước thu hồi lớn hơn diện tích đất vườn, ao ghi trên giấy chứng nhận thì diện tích các loại đất bị thu hồi như sau: Diện tích đất nông nghiệp (đất vườn, ao trong thửa đất ở) được xác định theo giấy tờ. Diện tích đất ở = Diện tích thu hồi đất - diện tích đất nông nghiêp (đất vườn, ao trong thửa đất ở).
Nếu trên diện tích thu hồi đất có các công trình xác định là đất ở, nếu thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo đất ở thì tại phương án bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất phải thể hiện các khoản nghĩa vụ tài chính do chuyển mục đích sử dụng đất (chuyển đất vườn, ao sang đất ở) để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định hoặc thực hiện việc chỉnh lý biến động giấy chứng nhận đối với diện tích đất ở (trừ lùi diện tích đất ở) nhưng diện tích đất ở còn lại không được nhỏ hơn hạn mức giao đất ở của địa phương được UBND tỉnh quy định tại thời điểm thu hồi đất.