Điều 4. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
1. Trong thời gian UBND tỉnh chưa kiện toàn, sắp xếp Tổ chức phát triển quỹ đất theo quy định của Luật Đất đai và Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật đất đai (sau đây gọi tắt là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng là:
a) Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện hoặc Hội đồng bồi thường, giải phóng mặt bằng cấp huyện (đối với trường hợp chưa có Trung tâm phát triển quỹ đất) có trách nhiệm lập, trình thẩm định, phê duyệt và tổ chức, thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các dự án trên địa bàn;
b) Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh có trách nhiệm lập, trình thẩm định, phê duyệt và tổ chức, thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các trường hợp sau:
- Khi Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt và công bố theo quy định;
- Khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai;
- Các trường hợp khác do UBND tỉnh giao.
2. Sau khi UBND tỉnh kiện toàn, sắp xếp lại Trung tâm phát triển quỹ đất theo quy định của Luật Đất đai và Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng là: Trung tâm phát triển quỹ đất.
Trung tâm Phát triển quỹ đất có trách nhiệm lập, trình thẩm định, phê duyệt và tổ chức, thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.