Điều 5. Hạn mức công nhận diện tích đất ở để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Điều 87 Luật Đất đai và Điều 45 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ:
1. Hạn mức công nhận diện tích đất ở được xác định theo khoản 4 Điều 87 Luật Đất đai theo từng địa bàn như sau:
1.1. Thành phố Quảng Ngãi:
a. Khu vực nội thành phố: 300 m2/hộ.
b. Khu vực ngoại thành phố: 300 m2/hộ.
1.2. Thị trấn thuộc các huyện đồng bằng:
a. Vùng nội thị: 300 m2/hộ.
b. Vùng ngoại thị: 300 m2/hộ.
1.3. Thị trấn thuộc các huyện miền núi:
a. Vùng nội thị: 300 m2/hộ.
b. Vùng ngoại thị: 400 m2/hộ.
1.4. Các xã đồng bằng: 400 m2/hộ.
1.5. Các xã miền núi: 400 m2/hộ.
1.6. Huyện Lý Sơn: 150 m2/hộ.
2. Đất vườn, ao được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư và được xác định như sau:
2.1. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì toàn bộ diện tích thửa đất đó được xác định là đất ở.
2.2. Trường hợp người sử dụng thửa đất có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 nhưng người sử dụng đất không có giấy tờ chứng minh diện tích đất đó hình thành (sử dụng) trước ngày 18/12/1980 và thực tế người sử dụng đất đã kê khai đăng ký có tên trong sổ địa chính theo Chỉ thị số 299/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ là đất thổ cư (T), nay được ít nhất 3 bậc cao niên trong thôn, tổ dân phố, chính quyền địa phương xác nhận, chịu trách nhiệm về thời gian sử dụng đất là trước ngày 18/12/1980 và thửa đất đó không có tranh chấp thì diện tích đất ở được xác định tối đa không quá 3 (ba) lần hạn mức công nhận đất ở theo khoản 1 Điều này.
2.3. Trường hợp thửa đất có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành) và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.
2.4. Trường hợp thửa đất có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:
2.4.1. Trường hợp thửa đất ở có diện tích nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tối đa quy định tại khoản 1 Điều này thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất;
2.4.2. Trường hợp thửa đất ở có diện tích lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tối đa quy định tại khoản 1 Điều này thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a. Đối với hộ gia đình có từ 04 nhân khẩu trở xuống thì hạn mức công nhận đất ở được xác định theo khoản 1 Điều này.
b. Đối với hộ gia đình có từ 5 đến 7 nhân khẩu (cư trú thường xuyên được chính quyền địa phương xác nhận) thì hạn mức công nhận đất ở được xác định không quá 1,5 lần hạn mức công nhận đất ở theo khoản 1 Điều này.
c. Đối với hộ gia đình có từ 8 nhân khẩu trở lên (cư trú thường xuyên được chính quyền địa phương xác nhận) thì hạn mức công nhận đất ở được xác định không quá 2 lần hạn mức công nhận đất ở theo khoản 1 Điều này.
2.5. Trường hợp thửa đất vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến ngày 01/7/2004 mà người sử dụng đất không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai thì diện tích công nhận đất ở được xác định bằng hạn mức giao đất để làm nhà ở quy định tại Điều 4 của Quy định này.
3. Hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định tại Điều 45 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ:
3.1. Diện tích đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ có hiệu lực thi hành được xác định như sau:
a. Diện tích đất ở là diện tích ghi trên giấy chứng nhận đã cấp.
b. Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 2 Điều này. Hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại và diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3.2. Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai chưa được xác định ranh giới thửa đất thì diện tích đất ở được xác định không quá 3 (ba) lần hạn mức giao đất để xây dựng nhà ở quy định tại Điều 4 của Quy định này.