vanban.org

Điều 6. Hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở — Quyết định 52/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/10/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/10/2024 Thay thế: 33/2024/QĐ-UBND · 11/10/2024
Bình Thuận Ban hành 05/12/2014 Hiệu lực 15/12/2014 Hết hiệu lực toàn bộ 3 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 6 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 54/2026/QĐ-UBND Quy định hạn mức giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất; giấy tờ khác về quyền sử dụng đất; việc xác định diện tích đất ở; diện tích đất sử dụng để xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp; điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 54/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 33/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định giấy tờ khác về quyền sử dụng đất; hạn mức giao đất, hạn mức công nhận, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận · 33/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND Ban hành quy định hạn mức giao đất ở; hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao và hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận · 52/2014/QĐ-UBND
25/10/202433/2024/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 15/12/2014Bản gốcThay thế
Quyết định số 93/2006/QĐ-UBND Ban hành quy định hạn mức giao đất; hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận · 93/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 52/2014/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở

1. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 hoặc được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở (hoặc thổ cư) thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ- CP mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở (hoặc thổ cư) thì hạn mức công nhận đất ở được xác định như sau:

a) Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất bằng diện tích thực tế của thửa đất đối với trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn 05 lần hạn mức giao đất ở, bằng 05 lần hạn mức giao đất ở đối với trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Quy định này.

Phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở, hiện đang là vườn, ao mà người sử dụng đất đề nghị được công nhận là đất ở hoặc đất phi nông nghiệp khác thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích đó và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

b) Trường hợp thửa đất được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì hạn mức công nhận đất ở được xác định dưới đây. Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

- Các phường thuộc thành phố Phan Thiết và thị xã La Gi:

+ Hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên: 400 m2;

+ Hộ gia đình có đến 4 nhân khẩu: 300 m2.

- Các thị trấn thuộc các huyện trong tỉnh:

+ Hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên: 500 m2;

+ Hộ gia đình có đến 4 nhân khẩu: 400 m2.

- Các xã đồng bằng:

+ Hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên: 600 m2;

+ Hộ gia đình có đến 4 nhân khẩu: 500 m2.

- Các xã trung du:

+ Hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên: 700 m2;

+ Hộ gia đình có đến 4 nhân khẩu: 600 m2.

- Các xã miền núi:

+ Hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên: 800 m2;

+ Hộ gia đình có đến 4 nhân khẩu: 700 m2.

- Các xã ở huyện Phú Quý:

+ Hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên: 600 m2;

+ Hộ gia đình có đến 4 nhân khẩu: 400 m2.

c) Nhân khẩu quy định tại điểm b Khoản này là nhân khẩu có tên trong

sổ hộ khẩu trước ngày Quy định này có hiệu lực thi hành. Trường hợp có tên trong sổ hộ khẩu nhưng đã chuyển tạm thời đi nơi khác (như đi học, thực hiện nghĩa vụ quân sự, xuất khẩu lao động…) thì được tính nhân khẩu để xác định hạn mức công nhận đất ở. Trường hợp nhiều thế hệ chung sống trên cùng một thửa đất (đã tách hộ hoặc chưa tách hộ) thì số lượng nhân khẩu được tính là tất cả những người có tên trong các sổ hộ khẩu và đang sống trên thửa đất đó.

3. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức quy định tại điểm b Khoản 2 Điều này; trường hợp đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Quy định này.

4. Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 của Điều này mà người sử dụng đất không có yêu cầu công nhận là đất ở thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 của Luật Đất đai năm 2013.

5. Diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 được xác định như sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì diện tích đất ở được xác định là diện tích ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Trường hợp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây mà người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ- CP nhưng diện tích đất ở chưa được xác định theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều này và chưa được xác định lại theo quy định tại điểm b và điểm c Khoản 1 Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003, nay người sử dụng đất có đơn đề nghị xác định lại diện tích đất ở hoặc khi nhà nước thu hồi đất thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 của Điều này; hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất, được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất đối với diện tích đã được xác định lại là đất ở.

Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục trình Ủy ban nhân dân cấp huyện điều chỉnh diện tích đất ở trên Giấy chứng nhận đã cấp theo diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại Quy định này.