Điều 7. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở mà người đang sử dụng không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai và đảm bảo điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận theo quy định thì được cấp Giấy chứng nhận trên toàn bộ diện tích đang sử dụng, trong đó diện tích đất ở được xác định theo nguyên tắc sau:
1. Trường hợp thửa đất đã được sử dụng làm nhà ở ổn định từ trước ngày 15/10/1993, thì diện tích đất ở được xác định bằng một lần hạn mức đất ở quy định tại Điều 3 của Quy định này và không phải nộp tiền sử dụng đất; đối với diện tích đất ở thực tế ngoài hạn mức (nếu có) thì phải nộp 50% tiền sử dụng đất; đối với đất nông nghiệp còn lại được cấp Giấy chứng nhận và không nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, diện tích đất nông nghiệp quá hạn mức (nếu có) chuyển sang thuê đất của Nhà nước.
2. Trường hợp thửa đất đã được sử dụng làm nhà ở từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, thì diện tích đất ở được xác định bằng một lần hạn mức đất ở quy định tại Điều 3 của Quy định này và phải nộp 50% tiền sử dụng đất; đối với diện tích đất ở thực tế ngoài hạn mức (nếu có) thì phải nộp 100% tiền sử dụng đất; đối với đất nông nghiệp còn lại được cấp Giấy chứng nhận và không nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, diện tích đất nông nghiệp quá hạn mức (nếu có) chuyển sang thuê đất của Nhà nước.