Điều 4. Những quy định chung khi cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở:
1. Thửa đất được cấp Giấy chứng nhận phải có ranh giới sử dụng đất ổn định, không tranh chấp. Nếu có tranh chấp, khiếu nại thì phải giải quyết xong việc tranh chấp, khiếu nại đó theo quy định của pháp luật trước khi cấp Giấy chứng nhận.
2. Diện tích công nhận đất ở được quy định tại các Điều 5, 6, 7 của Quy định này không vượt quá diện tích thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng.
3. Nếu diện tích thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhỏ hơn diện tích được xác định là đất ở theo hạn mức quy định tại các Điều 5, 6, 7 của Quy định này thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ thửa đất.
4. Nếu diện tích thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng lớn hơn diện tích được xác định là đất ở theo hạn mức quy định tại các Điều 5, 6, 7 của Quy định này, khi cấp Giấy chứng nhận thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận theo quy định và diện tích còn lại được xác định ghi theo hiện trạng sử dụng đất. Khi chuyển phần diện tích này sang đất ở thì được giải quyết theo quy định về chuyển mục đích sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
5. Khi cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 50 của Luật Đất đai thì không phải nộp tiền sử dụng đất; riêng đối với trường hợp người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai thì được cấp Giấy chứng nhận sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
6. Trường hợp sử dụng đất ở có nguồn gốc do Nhà nước giao đất ở khi thực hiện Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 khi cấp Giấy chứng nhận thì người sử dụng đất phải hoàn tất nghĩa vụ tài chính theo quy định.