vanban.org

Điều 10. Việc bồi thường kinh phí của người đi học — Quyết định 49/2013/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 08/04/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 08/04/2024 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 10/2024/QĐ-UBND · 27/03/2024
Bình Thuận Ban hành 21/10/2013 Hiệu lực 31/10/2013 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 12 năm
Quyết định số 49/2013/QĐ-UBND Về việc quy định chính sách trợ cấp kinh phí đối với người được cử đi học theo đề án đào tạo nguồn nhân lực có trình độ sau đại học ở nước ngoài giai đoạn 2007 - 2015 của tỉnh Bình Thuận · 49/2013/QĐ-UBND
08/04/202410/2024/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 31/10/2013Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 49/2013/QĐ-UBND › Chương III › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Việc bồi thường kinh phí của người đi học

1. Người được cử đi học vi phạm một trong các trường hợp sau đây thì phải bồi thường cho ngân sách tỉnh:

a) Người được cử đi học ngoại ngữ nếu qua 02 lần dự thi lấy chứng chỉ ngoại ngữ trình độ C, TOEFL hoặc IELTS (hoặc các chứng chỉ ngoại ngữ khác) mà không đạt yêu cầu; không hoàn thành khóa học ngoại ngữ do nguyên nhân chủ quan hoặc sau khi hoàn thành khóa học ngoại ngữ nhưng không chấp hành sự chỉ đạo của UBND tỉnh về đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ bị buộc đưa ra khỏi danh sách người được cử đi học;

b) Không hoàn thành khóa học theo cam kết của người được cử đi học:

- Kết quả học tập không đạt theo quy định của trường đang theo học;

- Không cung cấp kết quả học tập cho Ban Điều hành Đề án 100 khi có yêu cầu và đã được nhắc nhở nhưng vẫn không thực hiện;

- Vi phạm pháp luật của quốc gia (vùng lãnh thổ) nơi được cử đến học hoặc không chấp hành quy định của cơ sở đào tạo nơi đang theo học mà bị cơ sở đào tạo nơi đang theo học ra quyết định buộc thôi học;

- Tự ý bỏ học.

c) Sau khi học xong không về nhận công tác theo sự phân công của UBND tỉnh;

d) Người được cử đi học sau khi về nhận công tác nếu làm việc chưa đủ 120 tháng mà vi phạm một trong các trường hợp sau: tự ý bỏ việc, xin chuyển đi nơi khác, trong quá trình công tác được cơ quan quản lý trực tiếp đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật đến mức buộc thôi việc.

2. Mức bồi thường:

a) Người được cử đi học ngoại ngữ nếu qua 02 lần dự thi lấy chứng chỉ ngoại ngữ trình độ C, TOEFL hoặc IELTS (hoặc các chứng chỉ ngoại ngữ khác) mà không đạt yêu cầu; không hoàn thành khóa học ngoại ngữ do nguyên nhân chủ quan hoặc sau khi hoàn thành khóa học ngoại ngữ nhưng không chấp hành sự chỉ đạo của UBND tỉnh về đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, bị buộc đưa ra khỏi danh sách đào tạo thì phải bồi thường cho ngân sách tỉnh toàn bộ số tiền đã được cấp theo quy định tại Khoản 1 (nếu có) và Khoản 2, Điều 5 Quy định này. Trường hợp người được cử đi học về công tác tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, cơ quan khối Đảng, Đoàn thể của tỉnh thì được giảm 50% tổng số kinh phí phải bồi thường;

b) Người được cử đi học chuyên môn nghiệp vụ không hoàn thành khóa học hoặc sau khi học xong không về nhận công tác theo sự phân công của UBND tỉnh thì phải bồi thường gấp 02 lần kinh phí đã vay để đi học (bao gồm cả lãi suất ngân hàng) và toàn bộ tiền lương, phụ cấp (nếu có) theo hợp đồng trách nhiệm đã ký kết giữa ứng viên với Ban Điều hành Đề án.

Ví dụ: tổng số tiền người được cử đi học đã được cấp tạm ứng theo quy định tại các Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Quy định này là 600.000.000 đồng; tổng tiền lương và phụ cấp (nếu có) được nhận trong thời gian đi học là 120.000.000 đồng. Người đi học phải bồi thường cho ngân sách tỉnh số tiền như sau: 2 x [(600.000.000 đồng) + (600.000.000 đồng x lãi suất ngân hàng x số tháng chịu lãi)] + 120.000.000 đồng;

c) Người được cử đi học chuyên môn nghiệp vụ sau khi về nhận công tác, nếu làm việc chưa đủ thời gian đã cam kết trong hợp đồng mà vi phạm một trong các trường hợp sau: tự ý bỏ việc, xin chuyển đi nơi khác, trong quá trình công tác được cơ quan quản lý trực tiếp đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật đến mức buộc thôi việc, thì người được cử đi học phải bồi thường gấp 02 (hai) lần số tiền còn lại (bao gồm cả lãi suất của ngân hàng) sau khi đã trừ số tháng đã làm việc.

Ví dụ: tổng số tiền người được cử đi học đã được cấp tạm ứng theo quy định của các Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Quy định này là 600.000.000 đồng, được chia cho 120 tháng, mỗi tháng người làm việc sẽ được trừ khoản nợ đã tạm ứng là: (600.000.000 đồng: 120) = 5.000.000 đồng/tháng. Người đi học đã làm việc được 50 tháng, thì người đi học phải bồi thường cho ngân sách tỉnh như sau:

- Số tháng chưa công tác: 120 - 50 = 70 tháng;

- Số tiền phải bồi thường: 2 x [(70 x 5.000.000 đồng) + (70 x 5.000.000 đồng x lãi suất ngân hàng x số tháng chịu lãi)].

* Lãi suất ngân hàng tính bằng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm bồi thường.

* Số tháng chịu lãi là số tháng chưa công tác theo cam kết của người được cử đi đào tạo theo Đề án 100 sau khi đã hoàn thành chương trình;

d) Trường hợp người được cử đi học không bồi thường được thì người bảo lãnh cho người được cử đi học phải có nghĩa vụ bồi thường thay theo hợp đồng đào tạo đã ký kết và theo quy định của Bộ Luật Dân sự.

3. Thời hạn bồi thường kinh phí như sau:

a) Đối với trường hợp quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 10 của Quy định thì thời hạn bồi thường kinh phí là 06 tháng kể từ ngày có Quyết định của UBND tỉnh về thu hồi kinh phí tạm ứng (trừ trường hợp quy định tại Điểm c, Khoản 3, Điều 10 của Quy định này);

b) Đối với trường hợp quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 10 của Quy định thì thời hạn bồi thường kinh phí là 01 năm kể từ ngày có quyết định của UBND tỉnh về thu hồi kinh phí tạm ứng (trừ trường hợp quy định tại Điểm c, Khoản 3, Điều 10 của Quy định này);

c) Đối với trường hợp quy định tại Điểm c và d, Khoản 1, Điều 10 của Quy định và các trường hợp ra khỏi Đề án để xuất cảnh đi nước ngoài hoặc chuyển công tác ra ngoài tỉnh thì phải hoàn trả toàn bộ kinh phí phải bồi thường ngay sau khi quyết định của UBND tỉnh về thu hồi kinh phí tạm ứng có hiệu lực thi hành;

d) Đối với một số trường hợp đặc biệt khác, Chủ tịch UBND tỉnh sẽ quyết định về thời hạn bồi thường kinh phí đào tạo.

Trong trường hợp phải đưa ra Tòa án để giải quyết thì quyết định của Tòa án là cơ sở để các bên thực hiện.