Điều 6. Phân công nhiệm vụ và phân cấp quản lý trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình.
1. Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế dự toán công trình;
- Chủ đầu tư xây dựng công trình lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế có đủ tư cách pháp nhân và năng lực phù hợp để lập thiết kế dự toán công trình.
- Chủ đầu tư xây dựng công trình tự tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán, tổng dự toán đối với công trình xây dựng phải lập dự án; Nội dung hồ sơ thiết kế này phải phù hợp với hồ sơ thiết kế cơ sở đã được phê duyệt, nếu có sự sai khác hoặc thay đổi thì chủ đầu tư phải báo cáo xin ý kiến của cấp quyết định đầu tư.
Trường hợp chủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực để thẩm định thì được phép thuê tổ chức tư vấn có đủ điều kiện, năng lực thẩm định thiết kế, dự toán công trình làm cơ sở cho việc phê duyệt (tổ chức tư vấn được thuê thẩm tra là tổ chức không tham gia thiết kế công trình đề nghị thẩm tra).
2. Cấp giấy phép xây dựng công trình.
- UBND tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở Xây dựng cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh theo quy định phải có giấy phép xây dựng trước khi khởi công xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng được các Bộ, ngành, trung ương và UBDN tỉnh quyết định phê duyệt hoặc chấp thuận đầu tư.
- Chủ tịch UBND huyện, thị xã cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng trên địa bàn huyện, thị xã theo quy định phải có giấy phép xây dựng trước khi khởi công xây dựng thuộc các dự án đầu tư xây dựng được UBND huyện, thị xã quyết định phê duyệt và nhà ở riêng lẻ trên địa bàn các đô thị thuộc giới hành chính do huyện, thị xã quản lý.
- Chủ tịch UBND xã cấp giáy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở những điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được phê duyệt thuộc địa giới hành chính do xã quản lý.
3. Lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng.
- Chủ đầu tư thực hiện việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước bảo lãnh, vốn tin dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước phải theo đúng các quy định của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ và của các văn bản pháp luật về đấu thầu có liên quan.
4. Quản lý thi công xây dựng công trình:
Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng và tư vấn giám sát chịu trách nhiệm thực hiện việc quản lý thi công xây dựng công trình bao gồm các công việc: Quản lý chất lượng xây dựng, quản lý tiến độ xây dựng, quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình, quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng và quản lý môi trường xây dựng.
Nội dung quản lý các công việc trên phải theo đúng các quy định tại Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/2/2005, nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ.
5. Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng:
- UBND tỉnh quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước thông qua việc ban hành, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các chế độ, chính sách, nguyên tắc và phương pháp lập, điều chỉnh đơn giá, dự toán; định mức KT-KT trong thi công xây dựng; định mức chi phí trong hoạt động xây dựng để lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý tổng mức đầu tư, tổng dự toán; dự toán và thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình.
- Sở Xây dựng là cơ quan chủ trì xây dựng bộ đơn giá XDCB, hướng dẫn chế độ chính sách về lập dự toán, tổng dự toán công trình xây dựng.
- Sở Tài chính phối hợp với Sở Xây dựng điều tra, khảo sát giá thị trường để ra thông báo giá vật liệu xây dựng hàng tháng trên địa bàn tỉnh phục vụ cho công tác lập, thẩm định dự toán công trình xây dựng và thực hiện kiểm soát giá theo các quy định hiện hành.
6. Tạm ứng, thanh toán và quyết toán vốn đầu tư:
- Chủ đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện việc tạm ứng, thanh toán và quyết toán vốn xây dựng công trình theo đúng quy chế tài chính hiện hành. Ngay sau khi công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, trong khoảng thời gian chậm nhất theo quy định: 12 tháng đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A; 9 tháng đối với các dự án nhóm B và 6 tháng đối với các dự án nhóm C, chủ đầu tư phải thực hiện xong việc quyết toán vốn đầu tư.
- Sở Tài chính thẩm định quyết toán các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án của UBND tỉnh và của Sở Kế hoạch và Đầu tư được UBND tỉnh ủy quyền quyết định đầu tư.
- Phòng tài chính huyện, thị xã thẩm định quyết toán các dự án đầu tư xây dựng thuộc thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án của UBND huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn.
- Cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án đầu tư đồng thời là cấp phê duyệt quyết toán vốn đầu tư (riêng đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình UBND tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư phê duyệt thì giao cho Sở Tài chính phê duyệt quyết toán vốn đầu tư).