Điều 12. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương
1. Tổ chức triển khai, giám sát và kiểm tra việc thực hiện Quy chế này và các quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại cơ quan, đơn vị mình và các đơn vị trực thuộc (nếu có). Thường xuyên phổ biến, quán triệt tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý về quyền và nghĩa vụ trong bảo vệ dữ liệu cá nhân, xác định rõ trách nhiệm phải thực hiện và tiến độ thời gian theo quy định của pháp luật.
2. Rà soát, đánh giá các quy trình thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân trong phạm vi quản lý; kịp thời đề xuất ban hành các biện pháp quản lý phù hợp với quy mô, mức độ xử lý dữ liệu cá nhân của cơ quan, đơn vị mình. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi chuyển giao, mua bán dữ liệu cá nhân trái phép nếu phát hiện trong lĩnh vực, địa bàn mình quản lý.
3. Báo cáo tình hình bảo vệ dữ liệu cá nhân theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đồng thời gửi báo cáo cho Công an tỉnh để tổng hợp, báo cáo theo quy định.
4. Chỉ định bằng văn bản bộ phận hoặc cá nhân phụ trách công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, đơn vị có trách nhiệm chính trong bảo đảm các hệ thống thông tin do đơn vị làm chủ quản (hoặc được Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền quản lý) đáp ứng yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định, đồng thời là đầu mối thực hiện chế độ báo cáo khi có yêu cầu.
5. Trường hợp đơn vị thực hiện vai trò bên kiểm soát dữ liệu, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu hoặc bên xử lý dữ liệu cá nhân, đơn vị phải thực hiện các trách nhiệm tương ứng được quy định tại Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP và tại Quy chế này.
6. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành hoặc tổ chức triển khai thực hiện quy trình nội bộ, quản trị hệ thống thông tin, kiểm tra đánh giá và xử lý vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại cơ quan, đơn vị mình quản lý, bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật và Quy chế này.