vanban.org

Điều 10. Xử lý và thông báo vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân — Quyết định 48/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 25/08/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Phú Thọ Ban hành 12/08/2026 Hiệu lực 25/08/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 48/2026/QĐ-UBND › Chương II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Xử lý và thông báo vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân

1. Khi phát hiện cá nhân thuộc cơ quan, đơn vị mình quản lý có hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cá nhân vi phạm có trách nhiệm xem xét, xử lý như sau:

a) Nếu cá nhân vi phạm thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh, cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cá nhân đó phối hợp Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Công an tỉnh đánh giá, xác định mức độ vi phạm; phối hợp Sở Nội vụ báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định hình thức xử lý phù hợp;

b) Nếu cá nhân vi phạm thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cá nhân vi phạm tiến hành đánh giá mức độ vi phạm và quyết định biện pháp xử lý kỷ luật phù hợp theo quy định pháp luật hiện hành;

c) Đối với các trường hợp vi phạm không thuộc phạm vi quy định tại điểm a và điểm b khoản này, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cá nhân vi phạm có trách nhiệm xác định mức độ vi phạm và quyết định biện pháp xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật hiện hành;

d) Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu cấu thành vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, cơ quan/người có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với cá nhân vi phạm (theo phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức) phải thông báo ngay cho Bộ Công an (qua Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) và Công an tỉnh (qua Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) để phối hợp xử lý.

2. Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân trên địa bàn tỉnh do các đối tượng không thuộc quyền quản lý của tỉnh thực hiện:

a) Nếu hành vi vi phạm thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh và không được phân cấp cho cơ quan, đơn vị, địa phương thì sở, ban, ngành có liên quan phối hợp với Công an tỉnh (qua Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) đánh giá, xác định mức độ vi phạm và báo cáo, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật;

b) Nếu hành vi vi phạm thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan, đơn vị, địa phương thì giao các cơ quan, đơn vị, địa phương đánh giá, xác định mức độ vi phạm để báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo đồng thời trao đổi, phối hợp Công an tỉnh (qua Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) để có phương án xử lý theo quy định pháp luật.

3. Trong vòng 72 giờ kể từ khi phát hiện vi phạm đối với trường hợp thuộc diện phải thông báo, cơ quan có thẩm quyền phải gửi Thông báo vi phạm đến Cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân của Bộ Công an; đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và áp dụng ngay các biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả kịp thời theo quy định. Quy trình, cách thức, biểu mẫu, nơi nhận thông báo thực hiện theo Điều 23 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và theo Điều 28, Điều 29 Nghị định số 356/2025/NĐ-CP. Công an tỉnh tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi, đôn đốc việc thông báo này khi có vụ việc vi phạm xảy ra trên địa bàn tỉnh.