Điều 6. Đối với cây lấy gỗ
1. Phân loại nhóm gỗ căn cứ theo Quyết định số 2198/CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp về việc phân loại gỗ sử dụng và Quyết định số 334/CNR ngày 10 tháng 5 năm 1988 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về việc điều chỉnh xếp hạng một số loại gỗ sử dụng trong bảng phân loại 08 nhóm.
a) Gỗ Nhóm I - VIII: Được tính bằng đường kính gốc (đường kính gốc được đo tại vị trí của cây tính từ mặt đất lên 1,3 m).
b) Nhóm Tràm cừ: Tính bằng đường kính ngọn.
c) Nhóm Tre: Tính theo chiều cao cây.
d) Nhóm Trúc: Tính theo số cây và chiều cao trung bình/bụi.
đ) Nhóm dừa nước: Tính theo chiều dài của lá.
2. Đơn giá bồi thường được xác định trên cơ sở chi phí đầu tư ban đầu (bao gồm giống, công trồng), chi phí chăm sóc, công chặt hạ; có xem xét đến giá trị từng loại cây gỗ để hỗ trợ đền bù thêm. Đơn giá bồi thường trên không bao gồm xác cây.
3. Cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
4. Cây không nằm trong Bảng phân nhóm gỗ của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) nhưng thực tế có trồng ở địa phương sẽ đưa vào nhóm cây lấy gỗ khác.
5. Đơn giá bồi thường đối với cây lấy gỗ trên địa bàn tỉnh: Theo Bảng 3 Phụ lục I ban hành kèm theo Quyết định này.