Điều 11. Quy trình và hồ sơ đổi tên thôn, tổ dân phố
1. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước ở địa phương và quá trình lịch sử hình thành của thôn, tổ dân phố, việc đổi tên thôn, tổ dân phố cho phù hợp với địa danh là nhu cầu của địa phương; khi có nhu cầu đổi tên thôn, tổ dân phố, UBND cấp xã báo cáo UBND cấp huyện xin chủ trương đổi tên thôn, tổ dân phố.
2. Sau khi UBND huyện có văn bản thống nhất chủ trương đổi tên thôn, tổ dân phố, UBND cấp xã lập hồ sơ đổi tên thôn, tổ dân phố. Nội dung chủ yếu của hồ sơ bao gồm:
a) Sự cần thiết phải đổi tên thôn, tổ dân phố;
b) Tên gọi của thôn, tổ dân phố;
c) Vị trí địa lý, ranh giới của thôn, tổ dân phố;
d) Dân số (số hộ gia đình, số nhân khẩu) của thôn, tổ dân phố;
đ) Diện tích tự nhiên của thôn, tổ dân phố;
e) Tên thôn, tổ dân phố mới;
g) Đề xuất, kiến nghị.
3. UBND cấp xã tổ chức lấy ý kiến của cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố; tổng hợp các ý kiến và lập thành biên bản lấy ý kiến (nêu rõ tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình triệu tập; số cử tri có mặt tham dự, số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình tán thành).
4. Nếu được trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình được triệu tập tán thành thì UBND cấp xã hoàn thiện hồ sơ (kèm theo biên bản lấy ý kiến) trình HĐND cấp xã thông qua tại kỳ họp gần nhất.
Sau khi có Nghị quyết của HĐND cấp xã, UBND cấp xã trình UBND cấp huyện.
5. Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ do UBND cấp xã chuyển đến, UBND cấp huyện có Tờ trình trình UBND tỉnh đồng thời gửi Sở Nội vụ (kèm 02 bộ hồ sơ).
6. Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Nội vụ thẩm định, trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.