Điều 9. Sử dụng thông tin của kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã đăng ký đối với tổ chức, cá nhân trong nước
1. Đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không thuộc tài liệu mật, tổ chức, cá nhân được tiếp cận, tìm hiểu và sử dụng thông tin theo nội quy của cơ quan có thẩm quyền đăng ký.
2. Đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc tài liệu mật, tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin phải tuân thủ Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 về bảo vệ bí mật nhà nước và Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước và các quy định sau:
Phải có giấy tờ tùy thân kèm theo giấy giới thiệu của cơ quan ghi rõ nội dung, yêu cầu sử dụng thông tin và phải được thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền đồng ý, cụ thể:
a) Việc tiếp cận, tìm hiểu và sử dụng thông tin độ “Tuyệt mật” và “Tối mật” phải được sự phê duyệt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
b) Việc tiếp cận, tìm hiểu và sử dụng thông tin độ “Mật” thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh phải được sự phê duyệt của Giám đốc sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam.
c) Việc tiếp cận, tìm hiểu và sử dụng thông tin độ “Mật” thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở phải được sự phê duyệt của Giám đốc các sở, ban, ngành hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ đó.
3. Tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin của kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải thanh toán các chi phí dịch vụ thông tin thư viện do cơ quan có thẩm quyền quy định.
4. Tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin của kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành.