Điều 6. Thời hiệu, thời hạn khiếu nại
1. Thời hiệu khiếu nại là chín mươi (90) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 11 của quy định này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân hoặc khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Trong thời hạn ba mươi (30) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần hai mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá bốn mươi lăm (45) ngày.
2. Thời hiệu khiếu nại là ba mươi (30) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 13 của quy định này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân.
3. Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người bị thu hồi đất vẫn phải chấp hành quyết định thu hồi đất, giao đất đúng kế hoạch và thời gian đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, trừ trường hợp bị tạm đình chỉ thi hành theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.