Điều 4. Nguyên tắc chung
1. Nguyên tắc xét danh hiệu thi đua thực hiện theo quy định tại Điều 6 Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung và theo nguyên tắc sau
a) Không áp đặt chỉ tiêu thi đua, bảo đảm nguyên tắc tự nguyện tham gia thi đua của tập thể, cá nhân theo quy định;
b) Việc xét, tặng danh hiệu thi đua phải căn cứ vào nội dung đăng ký thi đua và tiêu chuẩn, thành tích đạt được gắn với minh chứng, sản phẩm cụ thể, thiết thực của tập thể, cá nhân;
2. Nguyên tắc khen thưởng thực hiện theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 6 Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung; Điều 3 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP và theo các nguyên tắc sau
a) Không lấy một thành tích để làm hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền xét khen thưởng nhiều lần; với một thành tích, một đối tượng chỉ được một đơn vị đề nghị khen thưởng. Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ và cá nhân lao động trực tiếp, cá nhân có nhiều sáng kiến trong lao động, công tác, học tập, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, gương "người tốt, việc tốt", cá nhân có hành động đẹp, có sức lan tỏa trong cộng đồng;
b) Khi đề nghị khen thưởng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh về thành tích theo công trạng và thành tích đạt được đối với người đứng đầu các phòng, ban, đơn vị và tương đương thuộc Cơ quan cấp tỉnh, UBND cấp huyện và Lãnh đạo UBND cấp xã: Phải đạt tiêu chuẩn khen thưởng về cá nhân theo quy định và tập thể đó không có cá nhân vi phạm từ mức khiển trách trở lên;
c) Chuyên đề thi đua do cấp nào phát động thì cấp đó xét khen thưởng. Trường hợp tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu xuất sắc, phạm vi ảnh hưởng lớn đối với tỉnh thì trình Chủ tịch UBND tỉnh xem xét khen thưởng;
d) Chưa xét khen thưởng đối với tập thể đang thanh tra, kiểm tra và chưa xét khen thưởng đối với Thủ trưởng trực tiếp có cấp dưới thuộc đơn vị, địa phương mình sai phạm, đang trong quá trình xem xét thi hành kỷ luật hoặc đang điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo đang được xác minh làm rõ;
e) Đối với cấp phó người đứng đầu được ủy quyền phụ trách (điều hành) từ 6 tháng trở lên trong năm thực hiện nguyên tắc khen thưởng như người đứng đầu được quy định tại Điểm b Khoản này.
3. Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng phải phù hợp với đối tượng, chức năng, nhiệm vụ được giao của tập thể, cá nhân và thành tích đạt được, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn làm tiêu chí chính khen thưởng. Phải đảm bảo đầy đủ hồ sơ, điều kiện và tỷ lệ, báo cáo thành tích phải thực hiện theo mẫu đã quy định và bám sát tiêu chuẩn khen thưởng.
4. Khi xét công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương phải xem xét đến thành tích của tập thể do người đó phụ trách.
Đối với cá nhân thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý, khi kết thúc năm công tác, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ xét, công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng khi cá nhân này được Ban Thường vụ Tỉnh ủy xếp loại chất lượng từ mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.
5. Đối với các đơn vị trực thuộc khi xét đề nghị công nhận danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” cho đơn vị thì sẽ không xét cho các phòng, đội, trạm, trại, hạt thuộc đơn vị đó và ngược lại (trừ các Trường Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, các đơn vị thuộc ngành Y tế, các tổ chức kinh tế).
6. Tập thể đạt Giải tại các Hội diễn, Cuộc thi, Hội thi, Liên hoan cấp tỉnh, cấp khu vực chỉ khen thưởng cho tập thể, không khen thưởng cho từng cá nhân thuộc tập thể đó.
Riêng các cá nhân thuộc tập thể đạt Giải tại các Hội diễn, Cuộc thi, Hội thi, Liên hoan cấp Quốc gia, cấp Quốc tế; các cá nhân thuộc Đội Bóng đá Tây Ninh khi thăng hạng từ Giải Hạng nhất Quốc gia lên Giải chuyên nghiệp hoặc Vô địch Giải chuyên nghiệp thì được xem xét, khen thưởng; số lượng khen thưởng được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.
7. Trong cùng 01 năm, đối với các cá nhân là lãnh đạo đơn vị tham gia các Ban Chỉ đạo, Hội đồng cấp tỉnh, được tặng không quá 02 Bằng khen thành tích trong thực hiện Chuyên đề do các Ban Chỉ đạo, Hội đồng phụ trách (tính theo thời gian ban hành Quyết định khen thưởng).
8. Khen thưởng đối với cá nhân mà Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung quy định “hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” là căn cứ kết quả xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; đối với các cá nhân thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý thì căn cứ vào kết quả xếp loại chất lượng của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đối với cá nhân không thuộc đối tượng áp dụng Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thống nhất xem xét, đánh giá, xếp loại chất lượng bằng văn bản.
Đối với tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ là tập thể được Thủ trưởng đơn vị hoặc người có thẩm quyền được giao phụ trách đơn vị đó đánh giá “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, "Hoàn thành tốt nhiệm vụ" bằng văn bản.
10. Quy định về việc làm tròn khi tính tỉ lệ công nhận danh hiệu thi đua: số lượng công nhận danh hiệu thi đua là số tự nhiên, do đó khi tính tỉ lệ đề nghị, nếu chữ số sau số đơn vị bằng 05 trở lên thì được tăng thêm 01 đơn vị, nhỏ hơn thì không tính. Riêng đối với các đơn vị nếu số lượng tập thể hoặc cá nhân tính theo tỉ lệ được quy định tại Khoản 1 Điều 13 và Khoản 1 Điều 16 của Quy chế này không đủ để làm tròn thành 01 thì được đề nghị khen thưởng 01 tập thể hoặc 01 cá nhân.